Người Việt ngậm tăm

Chuyện dân mình ưa ngậm tăm sau khi dùng bữa. Vì thói quen đó được đa số trong cộng đồng chấp nhận, "thực hành" nên đã có không ít người quy nó vào phong tục, văn hóa dù cho các nha sĩ luôn khuyến cáo không nên dùng tăm xỉa răng, như thế sẽ làm cho nướu, chân răng dễ tổn thương, gây các chứng bệnh về răng. Gần đây cũng đã xảy ra một vài ca cấp cứu thủng đại tràng vì giỡn tăm bằng... miệng.

Nhưng người ta vẫn thích nghịch tăm sau khi ăn như một thói quen đầy ngoan cố. Hơn thế, như một thứ bệnh nghiện hết thuốc chữa.

Tôi đã thử truy tìm nguồn gốc, ngõ hầu lý giải cho "hành vi" này, nhưng sách vở đành bất lực. Tôi đem vấn đề trao đổi với một số chuyên gia, nhà nghiên cứu văn hóa và ghi nhận được một số kiến giải khả dĩ ở góc độ căn nguyên, động cơ của hành vi.

 

Ảnh có tính chất minh họa.

 

Có người quan tâm đến văn hóa dân gian, cho rằng đời sống văn hóa làng xã trong quá khứ của người Việt quanh năm vần xoay trong lễ lạc cúng quảy. Hết thảy những câu chuyện làng nước, tương tác được đàm đạo quanh mâm rượu thịt đề huề, nên ngậm tăm là cung cách để giữ hình ảnh (thể diện) vệ sinh trong giao tiếp trên mâm cỗ. Ngậm tăm, về mặt biểu tượng cũng thể hiện sự no đủ, hay dấu chỉ cho người đối diện thấy mình mới dùng bữa xong. Có một câu chuyện người ta hay kể trên bàn nhậu, rằng xưa có một anh nông dân bần cùng thế nhưng ưa sĩ diện, lúc nào cũng ngậm tăm tỏ ra ta đây no đủ. Một hôm người ta phát hiện anh ta chết vì đói quá nuốt phải cây tăm.
Một chuyên gia khác lại cho rằng, chuyện xỉa răng là hậu quả của việc bỏ tục ăn trầu nhuộm răng của phụ nữ xưa. Người ta thay trầu bằng một que tăm, ngoài việc làm sạch miệng thì cũng đỡ thừa thãi hai tay và đỡ buồn miệng. Trong khi đó, một chuyên gia quan tâm đến nha khoa và nhân trắc học thì cho rằng, sự vụ này có liên quan đến đặc thù phát triển về khung hàm, sự bố trí răng của người Việt: do dùng chất xơ, thức ăn sống, thói quen thích nhai nghiền phần thịt xương, nên hầu hết người Việt đến tuổi trưởng thành thì khoảng cách giữa các chân răng có xu thế thưa ra, dễ gây chứng mảng bám, hôi răng nên xỉa răng bằng tăm tre là một thói quen hợp vệ sinh đối với nhiều người.

Mỗi chuyên gia có một trường quan tâm thì sẽ lấy "chuyên ngành" của mình ra mà tha hồ giải mã. Mỗi một cách lý giải đều có sự thú vị của nó.

Song tôi lại muốn "bẻ lái" câu chuyện sang một hướng khác, khi quan sát việc "thực hành" xỉa răng và ngậm tăm không chỉ diễn ra như một lý do giữ vệ sinh răng miệng sau khi ăn, mà còn là một căn bệnh nghiện. Hãy thử quan sát, trên thực tế, đâu chỉ có người có răng thích ngậm tăm sau khi ăn, mà đến những cụ già không còn răng cỏ, trệu trạo nướu trơn không bỏ được thói quen ngậm (nghịch) tăm trên miệng, vừa nói vừa chìa mũi tre nhọn bén vào mặt người đối diện, thậm chí, đâu phải người mới dùng bữa mới ngậm tăm, hãy xem một số cô cậu thanh lịch, đặc biệt ở Hà Nội, rất tự tin ngậm cây tăm trên miệng lái xe tay ga dạo phố hoặc bước vào siêu thị dù bữa ăn chính đã xong trước đó vài giờ đồng hồ.

Với người này, cây tăm chỉ có thể là ngậm chơi, nhưng với người kia, cây tăm được lừa đi lừa lại, cắn gãy khúc, nhai giập, làm biến dạng trước khi chu môi máng chặt, vận khí từ trong khoang miệng, bắn một phát vô hướng vào khoảng không.

Ngạc nhiên quá xá trước thói quen ngậm tăm của người Việt, cây bút Drew Taylor, sau nhiều năm sống ở Việt Nam, đã mô tả thật hài hước: "Xỉa răng quá nhiều! Sau bữa ăn, thể nào cũng thấy mọi người chuyền tay nhau ống tăm xỉa răng. Người cần cũng xỉa, mà người không cần cũng xỉa! Và từ không-cần-cũng-xỉa lại sinh ra cần-phải-xỉa (vì ghiền hoặc vì kẽ hở giữa răng đã rộng ra mất rồi!). Đành rằng xỉa răng vì nhu cầu vệ sinh, nhưng nhiều người sau khi xỉa xong đồ dơ trên răng rồi lại bắt đầu nhai cây tăm - chính cái nhai ấy mới là hành động thừa gây nghiện. Người ta có thể ngồi xe máy mà cây tăm vẫn còn máng ở một bên mép; có thể vừa nói chuyện vừa gặm tăm..." (Phân tâm học Freud: "Miễn vui là được rồi!", Doanh nhân Sài Gòn cuối tuần, số 168/2010). Anh Tây này tự hỏi không biết Freud sống lại ở Việt Nam thì ngành phân tâm học của ông ta sẽ ra sao.

Thực ra, nhìn bệnh nghiện ngậm tăm dưới ánh sáng phân tâm học cũng có nhiều điều thú vị. Freud cho rằng, có bốn giai đoạn phát triển cơ bản về tâm lý tiền sinh dục với một đứa trẻ: giai đoạn miệng (oral stage), giai đoạn hậu môn (anal stage), giai đoạn cơ quan sinh dục (phallic stage) và sau đó bước sang thời kỳ phát triển ngấm ngầm (latency period). Đáng chú ý, ở giai đoạn miệng, đứa trẻ sơ sinh tìm thấy khoái cảm, cảm nhận tình yêu trong việc bú sữa. Trong giai đoạn này, theo Freud, nếu đứa trẻ dễ được mẹ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng qua việc bú mớm, thì nó sẽ có một nhân cách dễ bị lệ thuộc ở tuổi trưởng thành; ngược lại, nếu không được mẹ đáp ứng, thiếu sự chăm sóc, thì ở tuổi trưởng thành, nó sẽ trở nên chìm đắm trong bất an, lo lắng, thất vọng. Đây gọi là tâm lý "cắm chốt" (oral fixation) - những ẩn ức chuyển hóa thành hành động vô thức có nguồn gốc từ những kích động tâm lý ở giai đoạn lỗ miệng.

Như vậy, nếu lý giải theo thuyết này của cha đẻ phân tâm học, thì sẽ thấy rằng, việc ngậm tăm xuất phát từ truyền thống văn hóa cưng chiều bảo bọc con cái trong thời bú mớm của những bà mẹ Việt Nam đã vô tình "cài đặt" một thói quen thỏa mãn khoái cảm vùng miệng rất lạ lụng khi những đứa trẻ trưởng thành, mà có khi chính chúng cũng không ý thức rõ ràng về cái "đường dây dẫn dắt" thói quen đó. Cũng có lý, khi mà nhiều gia đình hôm nay xem việc một đứa trẻ tự bưng lấy chén cơm ăn, tự dùng tăm xỉa răng sau bữa ăn là một hành vi không cần bắt chước đơn thuần, mà được coi là có khả năng tự chăm sóc bản thân thay vì đeo đẳng đòi vú mẹ.

Tuy nhiên, điều lý thú là ở chỗ, thói quen hay bệnh ghiền ngậm tăm của người Việt lại đưa đến một hình ảnh mang tính ẩn dụ, biểu lộ một thái độ sống, phương cách hành xử: "ngậm tăm" cho qua chuyện. Ngâm tăm trong trường ẩn dụ, được trang Xa lộ từ điển trên mạng định nghĩa là: biết đấy nhưng phải lặng im (To know it but forced to keep silence).

Làm sao để có thể giải mã điều này? Đến lúc cần phải dông dài viện dẫn đến lịch sử văn hóa người Việt, một lịch sử đối diện với quá nhiều bất trắc, khó khăn triền miên. Trong đời sống được đan cài đa tuyến, phức tạp đó, việc con người, từ dân đen đến kẻ quyền lực, hình thành cái phản xạ sinh tồn là nương tựa làng nước, tập thể đồng thời cũng luôn trong tình trạng thường trực đề phòng. Sự "ngậm tăm" kia cũng đến từ việc thiếu sự bình đẳng, sự minh bạch. Nhưng điều đáng nói, từ những nguyên nhân khách quan trên, "ngậm tăm" đi vào vô thức cộng đồng, nó trở thành một tập tính, quy định phương thức hành xử, lựa chọn thái độ sống tự thân của từng thành viên xã hội.

Ở đây, có một khía cạnh khác, đáng nói, đó là "ngậm tăm" không những lặng im che giấu cái biết, sự thật để cầu an, mà đôi khi, việc "ngậm tăm" cố tình làm cho tiếng nói của mình bị méo mó, đánh lạc hướng, làm nhiễu sự thật còn là một tình trạng đáng sợ hơn.

Từ cái nguyên lý "oral fixation" có thể thấy rộng ra, sự thích được dựa dẫm, bảo hộ, mất tự chủ, thiếu vắng ý thức trả giá cho ngôn luận cá nhân, không khí nghi kị lẫn nhau đã làm cho hiện tượng tính cách "ngậm tăm" trong cộng đồng có xu hướng phổ biến. (Gần đây, trên Facebook, xuất hiện một hội nhóm giễu nhại, có tên "hội những người thích ngậm tăm" với slogan "Đơn giản là thích ngậm tăm! Ngậm tăm mọi lúc mọi nơi!’. Những cá nhân nương náu vào tập thể, đam đông để "ai sao mình vậy", dễ dàng xuê xoa nhắm mắt làm ngơ cho qua mọi thứ theo tinh thần "im miệng cho nó lành" đã đưa đến tình trạng "ngậm tăm" như một sự thỏa hiệp, cam chịu. Trong lớp học, trên giảng đường, học sinh, sinh viên không buồn trao đổi, đặt câu hỏi, phản biện để truy cầu đến cùng những hiểu biết; trò phải nương theo thầy để được "qua truông". Trong cơ quan, lính thấy cái sai của sếp, sếp biết thói hư của lính nhưng lại "ngậm tăm" bao che, bắt tay nhau trong một "liên minh ma quỷ", bảo toàn sức mạnh chống cự trước các bè phái khác ngừng đấu đá. Ngoài xã hội, người ta dễ dàng lảng tránh trách nhiệm chứng nhân cho lẽ phải, sự thật để được yên thân với ý nghĩ, đó không phải là việc của mình. Trong gia đình, mọi thứ tuân thủ theo một thứ bậc truyền thống trên bảo dưới nghe, thiếu sự dân chủ cần thiết để các thành viên tôn trọng lẫn nhau với tư cách những cá nhân bình đẳng.

"Ngậm tăm" còn là sự dung túng, che đậy cho cái xấu, cái ác, cái phản tiến bộ và chống lại sự minh bạch cần thiết trong các mối quan hệ, tổ chức quản lý xã hội, làm cho đời sống được vận hành trong sự nhập nhèm, nhiều bất trắc, đầy ma mị và nghi hoặc.

Im lặng là vàng. Nhưng im lặng theo lối "ngậm tăm" cũng là thứ vàng giả, gây nhiễu, đánh lận mọi giá trị. Khi mà việc "thực hành ngậm tăm" trở thành một chứng nghiện được "nâng quan diểm" thành một tính cách văn hóa của cộng đồng thì tiếng nói đúng đắn, sự thật tiến bộ là những thứ bị vùi lấp không thương xót.

Theo  Vĩnh Nguyên - Thời báo Kinh tế Sài Gòn

 

Hệ Thống Học Vị Và Học Hàm Khoa Học Ở Vài Nước Tây Phương

Nguồn: http://www.ykhoanet.com/NCKH/nguyenvantuan/hochamhocvi.htm

Hệ Thống Học Vị Và Học Hàm Khoa Học Ở Vài Nước Tây Phương

Nguyễn Văn Tuấn

Đối với sinh viên và giới khoa bảng, bằng cấp đại học hay học vị vừa là cứu cánh vừa là phương tiện. Là sinh viên đang miệt mài trong các trường đại học hay cao đẳng, mục tiêu và cũng là ước mơ thực tế nhất là được tốt nghiệp, được cấp mảnh giấy có ghi tên mình kèm theo một cụm từ phản ánh tầm cỡ học lực mà mình mới hoàn tất. Vì thế, bằng cấp là một phần thưởng cho sự học tập, một bằng chứng về khả năng chuyên môn. Hơn nữa, bằng cấp còn là một "giấy giới thiệu" để được kếp nạp vào các đoàn thể của những người có học (learned people), một "giấy thông hành" để được thu nhận vào nghiên cứu khoa học. Đối với người đang làm việc, bằng cấp là một phương tiện để tiến thân trong các nấc thang sự nghiệp. Đối với một quốc gia, số lượng dân với bằng cấp đại học là một chỉ số về trình độ dân trí, và một thước đo về sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội.

Chưa có ai làm thống kê để biết có bao nhiêu loại bằng cấp trên thế giới, nhưng ai cũng đồng ý một điều là bằng cấp, đặc biệt là ở bậc đại học, cực kỳ phức tạp và phong phú. Chỉ riêng ở Mỹ, đã có ước đoán cho rằng các đại học Mỹ hàng năm cấp hơn 3000 loại bằng cấp khác nhau! Ngày nay, hàng năm chỉ riêng các trường đại học ở Mỹ cho ra trường khoảng 1,14 triệu cử nhân, 420 ngàn cao học và 18 ngàn tiến sĩ.

Với một số lượng bằng cấp khổng lồ và đa dạng như thế, chẳng trách nhiều người trong chúng ta rất dễ bị nhầm lẫn về tên gọi của chúng. Cộng thêm vào đó là những quảng cáo của nhiều người trên báo chí Việt ngữ, hoặc vô tình hoặc cố ý, làm cho vàng thau lẫn lộn. Nhiều tên bằng cấp đã xuất hiện trên mặt báo như "Cao học I", "Cao học II" (ở hải ngoại), "Tiến sĩ đệ tam cấp", "Phó tiến sĩ" và "Thạc sĩ" (ở trong nước). Vậy, những văn bằng này khác nhau như thế nào và chương trình huấn luyện ra sao? Bài viết này sẽ trình bày một cách khái quát hệ thống bằng cấp và chức vụ khoa bảng ở một vài nước Tây phương mà người viết đã có kinh nghiệm làm việc thực tế hay có tìm hiểu, với hy vọng là sẽ làm, hay góp phần làm, sáng tỏ được vài thắc mắc thầm kín mà tôi tin là nhiều đồng hương đã và đang có. Cố nhiên, vì tôi được đào tạo hay làm việc khoa học trong hệ thống giáo dục Anh, Úc và Mỹ, những bằng cấp của các nước này sẽ được bàn kỹ hơn những bằng cấp ở các nước khác. Qua bài viết này, tôi hy vọng bạn đọc sẽ bổ sung thêm hệ thống bằng cấp ở các nước Âu châu cho hoàn chỉnh và đầy đủ hơn.

Ngược dòng lịch sử

Hệ thống bằng cấp đại học ngày nay được bắt nguồn và mô phỏng từ hệ thống văn bằng của hai trường đại học cổ kính ở Âu châu vào thế kỷ 13: Trường Đại học Paris ở Pháp (thành lập vào năm 1170) và Trường Đại học Bologna ở Ý (thành lập vào khoảng 1158). Theo bộ luật La Mã (Roman Law), vào thời Trung cổ, mỗi ngành nghề có quyền thành lập một hiệp hội gọi là Collegium, và hiệp hội này bầu ra những người có danh hiệu là Magistrates (mà tôi tạm dịch là "Thầy"). Vào thời kỳ này, người được nhận vào phụ giảng được gọi là Bachalari. Vào cuối thế kỷ 13, Trường Đại học Paris thay đổi học vị này thành Baccalauréat. Lúc bấy giờ, văn bằng Baccalauréate hay Bachelor là học vị duy nhất được cấp cho những thí sinh đã (i)thi đỗ khóa thi do các các "Thầy" đặt ra; và (ii) đã học xong một chương trình giáo khoa 4 năm về ngữ pháp (grammar), tu từ học (rhetoric) và logic. Sau khi xong văn bằng Bachelor, thí sinh có thể theo học tiếp chương trình Master hay Doctor. Và sau khi đã xong chương trình học Master hay Doctor (khoảng 8 năm học), một hội đồng giám khảo sẽ duyệt xét thí sinh để kết nạp vào tổ chức được gọi là Universitas of Doctors.(1) Sự kếp nạp này cũng là một "chứng chỉ" cho người nhận được hành nghề dạy đại học.

Lúc bấy giờ, những danh xưng như Master, Doctor và Professor có cùng nghĩa và tương đương về giai cấp: họ hành nghề dạy học. Vào thế kỷ 13, những người dạy học tại Trường Đại học Bologna, lúc đó là trung tâm huấn luyện về luật pháp bên Âu châu, được gọi là Doctor. Trong khi đó ở Trường Đại học Paris, là trung tâm về văn học nghệ thuật, những người dạy học được gọi là Master.

Sự bình đẳng giữa Master và Doctor bị chấm dứt ở Anh và Mỹ, nơi mà văn bằng Doctor sau này được đánh giá cao hơn văn bằng Master. Ở Anh, hai trường Đại học Oxford (thành lập vào khoảng 1249) và Cambridge (thành lập vào khoảng 1209) được mô phỏng theo hệ thống tổ chức của Trường Đại học Paris; do đó, các nhà khoa bảng các môn văn hóa nghệ thuật thường được gọi là "Master", trong khi các đồng nghiệp của họ trong các môn học như triết lý, thần học, y học, và luật được gọi là "Doctor". Ngày nay, các tên bằng cấp như "Master of Arts" và "Doctor of Philosophy" có nguồn gốc từ sự phân chia này.

Ở Mỹ, Trường Đại học Harvard được thành lập vào năm 1636, với cơ cấu tổ chức được mô phỏng hoàn toàn theo hệ thống đại học ở Anh Quốc. Lúc đó, văn bằng Baccalaureate là văn bằng duy nhất được cấp cho sinh viên tốt nghiệp. Sau đó vài năm, văn bằng Bachelor of Arts (B.A.) được cấp cho sinh viên sau khi đã hoàn tất 4 năm theo học và qua một kỳ thi tốt nghiệp. Năm 1831, trường Harvard cho mở thêm chương trình học dẫn tới văn bằng Bachelor of Science (B.S.). Một năm sau đó (1852), trường đại học Yale cho ra đời chương trình học 3 năm dẫn đến văn bằng Bachelor of Philosophy (B.Phil.).

Đầu thế kỷ 19, bốn sinh viên của Mỹ là Edward Everett, George Ticknor, George Bancroft và Joseph Green Cogswell được cử sang du học tại Trường Đại học Gottingen (Đức), và sau khi trở về Mỹ họ trở thành giáo sư ở Trường Đại học Harvard. Bốn người này đã có nhiều ảnh hưởng trong việc hình thành một hệ thống giáo dục sau đại học tại Mỹ. Ôạng Everett sau này được bổ nhiệm làm hiệu trưởng Trường Đại học Harvard. Năm 1853, Trường Đại học Michigan, với cơ cấu tổ chức theo mô hình của Đức, đã quyết định đưa vào chương trình Master of Arts (M.A.). Sau đó 7 năm, Trường Đại học Yale (thành lập năm 1701) bắt đầu cấp văn bằng Doctor of Philosophy (Ph.D.). Nhưng hệ thống sau đại học thực sự mang tính "Mỹ" được bắt đầu khi hai Trường Đại học John Hopkins được thành lập vào năm 1876, và Chicago vào năm 1890, với chủ trương chỉ dạy chương trình sau đại học.

Hệ thống giáo dục cao đẳng và đại học hiện đại

Có thể nói phần lớn hệ thống giáo dục cao đẳng và đại học trên thế giới ngày nay được hình thành theo mô hình tổ chức của bốn nước (theo thứ tự): Pháp, Đức, Anh, và Mỹ. Các nước này có ảnh hưởng lớn đến nền giáo dục hiện đại ở các nước khác trên thế giới, kể cả Việt Nam, hoặc qua các chính phủ thuộc địa, chinh phục bằng quân sự và kinh tế, hoặc qua truyền giáo.

Nói một cách khái quát, sau 5 năm ở bậc tiểu học và 7 năm ở bậc trung học, học sinh có khả năng hay thích theo đuổi tiếp sự nghiệp học hành có thể ghi danh hay thi vào các trường cao đẳng hay đại học để học thêm. Dù có sự khác biệt về quy mô, tổ chức, quy định, và tiêu chuẩn giữa các quốc gia, nhưng nói chung hệ thống giáo dục cao đẳng và đại học có thể chia làm ba hình thức chính mà tôi tạm đặt tên là: cao đẳng, đại học, và sau đại học.

Ở bậc "cao đẳng" (có khi được dịch là đại học cộng đồng) gồm các trường và cơ sở có chương trình huấn luyện thực tiễn, nhắm vào mục đích đào tạo thợ hay cán sự có tay nghề cao, hay chuyên viên kỹ thuật lành nghề. Các chương trình này thường kéo dài trong vòng 2 tới 3 năm. Chương trình dạy học ở các trường này đã bị nhiều nhà giáo dục chỉ trích gay gắt là quá thực tế và thiếu tiêu chuẩn khoa bảng. Tuy vậy, các trường này cũng được sự ủng hộ của nhiều người vì nó đem lại cơ hội cho những học sinh không đủ khả năng theo đuổi các chương trình ở bậc đại học. Hệ thống giáo dục cao đẳng của Mỹ đã được một số nước như Úc, Gia Nã Đại, Nhật và Phi Luật Tân mô phỏng theo. Ở Mỹ, các trường đảm nhận các chương trình huấn luyện hệ cao đẳng thường được gọi là "Community College" (hay còn được gọi là "Junior College")(2), và ở Úc, các trường này thường được gọi là "Technical College".

Cao hơn hệ cao đẳng là hệ thống giáo dục đại học (Undergraduate university education) nhằm mục tiêu đào tạo các chuyên viên có trình độ lý thuyết căn bản tương đối cao trong mọi lĩnh vực, như kỹ sư, luật sư, bác sĩ, kinh tế gia, nghệ sĩ, v.v... Tùy theo môn học, để theo học các chương trình này, học sinh thường phải mất từ 3 đến 6 năm.

Sau cùng là chương trình giáo dục sau đại học nhắm vào mục tiêu đào tạo những nhà khoa học và kỹ thuật có trình độ chuyên môn vừa sâu vừa cao, và những giáo sư, những nhà nghiên cứu tương lai cho các trường đại học hay cơ sở nghiên cứu. Trong các chương trình sau đại học này, học sinh phải vừa học tập, vừa nghiên cứu từ 2 năm đến 10 năm, tùy theo ngành nghề chuyên môn.

Phần đông các cơ sở huấn luyện bậc đại học và sau đại học thường mang tên "University". Tuy nhiên, một số trường danh tiếng, do truyền thống và lịch sử khi thành lập, vẫn duy trì những tên gọi cũ như College (chẳng hạn như Darmouth College, Mỹ), Institute (như Massachusetts Institute of Technology, Mỹ), hay thậm chí School (như London School of Economics, Anh).

Vấn đề tên gọi trở nên khá rắc rối khi chữ "College" được dùng để gọi một phân khoa trong đại học và thậm chí một trường trung học. Thật vậy, trong một số (không nhỏ) các trường đại học ở Mỹ, Anh và Úc, một số phân khoa được gọi là "College" (thay vì "Faculty"). Các trường đại học lớn và lâu đời như Oxford và Cambridge (Anh) có nhiều trường "Colleges" như là những phân khoa chuyên môn trong hệ thống tổ chức nội bộ. Ở Anh, một số trường tuy đào tạo chương trình đại học, nhưng không có quyền cấp bằng, được gọi là "University College"(3).

Ở Anh và Úc, một số trường trung học tư thục (như Eton và Winchester) cũng có tên là "College"! Điều này đã gây ra một hiểu lầm sự khác biệt giữa College là một trường trung học và College là một trường đại học trên mặt báo gần đây ở trong nước(4).
Càng phức tạp hơn, khi chữ "College" còn dùng để chỉ một số cơ sở huấn luyện sau đại học (phần lớn là y khoa), tuy không chính thức cấp văn bằng, nhưng là những trung tâm đào tạo và chứng nhận trình độ kỹ năng nghề nghiệp, như Royal College of Surgeons, Royal College of Radiologists, Royal College of General Practitioners, v.v... Những "trường" này thực ra chỉ là những đoàn thể chuyên môn (hoàn toàn độc lập với các trường đại học), nhưng thí sinh muốn trở thành thành viên của các trường này đều phải trải qua một kỳ thi tuyển rất khó khăn và có tính cạnh tranh cao.

Hệ thống bằng cấp bậc cao đẳng và đại học

Ở mỗi bậc cao đẳng, đại học và sau đại học, có nhiều văn bằng khác nhau được cấp cho các học sinh tốt nghiệp hay đã đạt được một số tiêu chuẩn được đề ra trong một số ngành nghề. Ở hệ thống cao đẳng ("Community College"), sau hai năm học và đủ điểm tốt nghiệp, học sinh được cấp văn bằng "Associate" (5), như Associate in Arts, Associate in Applied Science, Associate in Business Adminstration, v. v...

Ở hệ thống đại học, văn bằng "Bachelor" (tức "Cử nhân") thường được cấp cho học sinh sau khi đã hoàn tất chương trình học. Hai bằng Bachelor of Arts (B.A.) và Bachelor of Science (B.S. ở Mỹ hay B.Sc. ở Anh) vẫn là hai bằng cấp thông dụng nhất(6). Ngoài hai văn bằng chung này ra, còn có nhiều văn bằng với những tên rất cụ thể như Bachelor of Engineering (Cử nhân Kỹ thuật), Bachelor of Architecture (Cử nhân Kiến trúc), Bachelor of Medicine (Cử nhân Y khoa), Bachelor of Nursing (Cử nhân Điều dưỡng), Bachelor of Economics (Cử nhân Kinh tế), Bachelor of Jurisprudence (Cử nhân Luật học), v.v... Ngày nay, với đà tiến bộ về khoa học và kỹ thuật, đã có hơn 600 loại bằng cử nhân trong các môn học khác nhau được cấp bởi các trường đại học ở Mỹ!

Hệ thống bằng cấp bậc sau đại học

Ở hệ thống cao đẳng và đại học, hệ thống văn bằng khá đơn giản, nhưng ở bậc hậu đại học thì hệ thống văn bằng rất phức tạp và có sự khác nhau giữa các quốc gia, không những về tên gọi, danh xưng, mà còn ở tiêu chuẩn và phương cách đào tạo.

Graduate Diploma: Đây là một loại văn bằng chỉ phổ biến ở Anh và một số nước còn chịu ảnh hưởng hệ thống giáo dục của Anh. Như tên gọi của văn bằng ám chỉ (Diploma có gốc Hy Lạp, "Diplous" có nghĩa là "gấp đôi"), Graduate Diploma(7) là một văn bằng học thêm. Thực vậy, Graduate Diploma thường dành cho (i) những người muốn theo học các môn học mà không cùng môn học ở bậc cử nhân mà họ đã có (chẳng hạn như sinh viên đã có bằng cử nhân về toán, nhưng muốn theo học hậu đại học nghành quản lý); và (ii) những người không đủ khả năng hay điều kiện học bậc Master. Thời gian học Graduate Diploma thường từ 1 tới 2 năm. Sinh viên không cần làm luận án tốt nghiệp. Ngày nay, với sự cạnh tranh giữa các trường đại học càng ngày càng gay gắt, số lượng sinh viên theo học Graduate Diploma ít đi dần, vì phần đông họ tìm cách học chương trình Master. Thật ra, khoảng phân nửa các môn học của chương trình Graduate Diploma là nằm trong chương trình học Master.

Master: Chữ "Master" có gốc từ tiếng Anh cổ, "maegester"; và chữ này tự nó được vay mượn từ tiếng Pháp cổ, "maistre" có nghĩa là "thầy". Cũng như ở bậc cử nhân, hai văn bằng Master of Science (M.Sc. hay M.S.) và Master of Arts (M.A.) là hai văn bằng thông dụng nhất ở bậc hậu đại học. Tuy nhiên cũng có những văn bằng chuyên môn cho các ngành chuyên môn khác như kinh tế (Master of Economics), luật (Master of Law), kỹ thuật (Master of Engineering), v. v... Riêng tại Mỹ, có khoảng 500 văn bằng Master khác nhau! Theo thống kê ở Mỹ, vào đầu thế kỷ 20, các trường đại học Mỹ đã cấp 1015 văn bằng master; cho đến năm 1960, con số này tăng lên khoảng 141 ngàn, và đến năm 1998, khoảng 420 ngàn.

Chương trình học Master, cũng giống như chương trình Graduate Diploma, là nhằm vào mục tiêu đào tạo những chuyên viên kỹ thuật cho các cơ quan chính phủ và công ty. Sau khi tốt nghiệp, những người này phải có một khả năng chuyên môn vừa sâu, vừa vững vàng, có thể đáp ứng cho nhu cầu thực tế của một cơ quan hay công ty. Chương trình Master thường dành cho những sinh viên đã có bằng cử nhân cùng nghành. Tuy nhiên, tùy theo trường hợp cá nhân và kinh nghiệm, các sinh viên cũng có thể theo học các nghành chuyên môn khác với văn bằng căn bản cử nhân mà họ đã có. Ngày nay, sinh viên trong các nghành khoa học thuần túy cũng có thể được nhận vào học bên các nghành kinh tế hay xã hội học. Chương trình master thường kéo dài từ 1 tới 2 năm. Nhưng cũng có trường dạy M.B.A. Ở (Master of Business Administration) trong vòng 1 năm, với một chương trình học rất nặng và đòi hỏi sinh viên phải học ngày học đêm.

Doctorate: Chương trình học Doctorate (9) là nhằm mục đích đào tạo những khoa học gia chuyên nghiệp (professional scientists), những chuyên viên nghiên cứu cấp cao cho các công ty kỹ nghệ và các cơ quan nghiên cứu thuộc chính phủ. Những người này đóng vai trò then chốt cho nền khoa học của một nước và là nguồn cung cấp nhân lực giảng dạy cho các trường đại học. Thời gian học thông thường từ 3 tới 6 năm. Trong thời gian nghiên cứu, sinh viên phải công bố ít nhất là 3 bài báo khoa học trên các tạp chí có "peer-review" (tức được duyệt bởi các nhà khoa học làm cùng ngành) để có thể bảo vệ luận án. Luận án thường được hai khoa học gia có uy tín trong nước (thông thường từ các trường đại học khác) và một hoặc hai khoa học gia uy tín ngoài nước duyệt xét và phê chuẩn. Thời gian duyệt xét luận án có thể từ 6 tháng tới 1 năm.
Nói chung ở các nước Tây phương như Mỹ, Canada, Úc, và Anh quốc, văn bằng tiến sĩ là văn bằng cao nhất trong hệ thống giáo dục hậu đại học. Tuy nhiên, có vài khác biệt về tên gọi các văn bằng doctorate này giữa các nước, và nếu không để ý, sẽ gây ra những hiểu lầm đáng tiếc.

Ở các nước như Anh và Úc, có ba dạng tiến sĩ riêng biệt: Ph.D. (Doctor of Philosophy) cho tất cả các nghành (kể cả y khoa), M.D. (Doctor of Medicine) riêng cho y khoa, và D.Sc. (Doctor of Science) cho tất cả các nghành khoa học. Ở các nước này, học vị D.Sc., trên lý thuyết, được xem cao hơn học vị Ph.D. và M.D., vì một trong những điều kiện được theo học D.Sc. là thí sinh phải có học vị Ph.D. hay M.D. ít nhất là 10 năm và đã có đóng góp lớn trong nghiên cứu khoa học trên trường quốc tế.

Không nên nhầm lẫn giữa văn bằng D.Sc. của Úc/Anh và của Mỹ. Ở Mỹ, văn bằng cao nhất là Ph.D. hay tương đương. Những văn bằng tương đương Ph.D. ở Mỹ thường gặp là D.Sc. (còn được viết tắt là "Sc.D."), Ed.D. (Doctor of Education, Tiến sĩ Giáo dục), Dr. P.H. (Doctor of Public Health, Tiến sĩ Y tế Công cộng), Dr. Eng. (Doctor of Engineering, Tiến sĩ Kỹ thuật). Một số trường, chẳng hạn như Trường Đại học Harvard, học vị doctorate của nghành Y tế Công cộng (Public Health) là D.Sc., trong khi đó ở các trường khác lại gọi là Dr. P.H. hay Ph.D. Tương tự, ở Trường Đại học Boston, những học sinh tốt nghiệp doctorate ngành sư phạm được gọi là Ed.D., nhưng phần lớn ở các trường khác thì lại được gọi là Ph.D. Văn bằng Ph.D. cũng được cấp cho các học sinh trong các ngành kỹ thuật, nhưng có trường ở Mỹ lại gọi là Dr. Eng. Vì thế văn bằng D.Sc. của Mỹ không tương đương với bằng D. Sc. của Úc hay Anh Quốc.

Tiến sĩ và Bác sĩ: Tiếng Việt ta phân biệt Tiến sĩ và Bác sĩ; nhưng trong tiếng Anh, những người có học vị Ph.D. , D.Sc. và M.D. đều được gọi là "Doctor". Tuy nhiên, có sự khác biệt giữa văn bằng M.D. của Úc/Anh Quốc và M.D. của Mỹ. Không giống như ở Mỹ, nơi mà y khoa được dạy như một chương trình hậu đại học ("Graduate study", tức sau khi sinh viên đã xong chương trình Cử nhân); ở Úc và Anh, các sinh viên học y khoa được tuyển thẳng từ các trường trung học, và do đó, chương trình y khoa được xem là bậc đại học ("Undergraduate"), mặc dù thời gian huấn luyện tương đương.

Trong khi các sinh viên y khoa ở Mỹ ra trường với văn bằng M.D. (Doctor of Medicine, Tiến sĩ Y khoa), các đồng nghiệp của họ ở Úc ra trường với hai bằng cử nhân M.B. và B.S. (Bachelor of Medicine và Bachelor of Surgery, Cử nhân Y khoa và Cử nhân Giải phẫu). Cần được nói thêm là mặc dù văn bằng là cử nhân, nhưng danh xưng của họ là "Bác sĩ" (Doctor).

Ở Úc, các bác sĩ đã có văn bằng M.B. B.S. có thể ghi danh theo học tiếp chương trình Ph.D. hay M.D. Chương trình Ph. D. có mục đích đào tạo các bác sĩ thành những nhà khoa học chuyên nghiệp, có khả năng nghiên cứu độc lập. Chương trình M.D. có mục đích đào tạo các bác sĩ thành những chuyên gia lâm sàng (clinical science) hơn là khoa học cơ bản (basic science). Thông thường, sinh viên phải làm một hay hai cuộc nghiên cứu lâm sàng (clinical studies) và viết luận án dựa trên các nghiên cứu này. Chương trình học M.D. thông thường là 2 cho tới 3 năm (ngắn hạn hơn Ph. D.). Do đó, văn bằng M. D. của Úc và Anh không có cùng nghĩa với văn bằng M.D. của Mỹ.

Post-doctorate (Hậu tiến sĩ): Khi học sinh hoàn tất chương trình doctorate, học sinh còn phải trải qua một giai đoạn "thực tập" thông thường kéo dài khoảng 1 tới 5 năm. Người nghiên cứu trong giai đoạn này thường được gọi là "Post-doctoral fellow" (tạm dịch là "nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ"). Thực ra, trong giai đoạn này, thí sinh không được cấp văn bằng gì cả, vì đây là giai đoạn mà nghiên cứu sinh phải làm việc dưới sự hướng dẫn của một giáo sư kinh nghiệm, và qua đó dần dần tự mình phát triển một chương trình nghiên cứu của riêng mình. Đây cũng là thời gian mà nghiên cứu sinh có cơ hội để "trưởng thành" một nhà nghiên cứu độc lập. Vì thế, "Postdoctoral fellow" không phải là một văn bằng, và không nên hiểu như là một "tiến sĩ cao cấp" (10).

Học vị ở Pháp, Đức và Nga

Ở Pháp, hệ thống giáo dục đại học trực thuộc sự quản lý của chính phủ. Do đó, việc phân chia bằng cấp và học vị được định đoạt bởi chính phủ. Kể từ năm 1968 (thời gian của cuộc "cách mạng giáo dục"), bằng cấp ở Pháp đã trở thành khá phức tạp và có khi khó mà so sánh được. Thông thường, sau 7 năm học trung học và thi đỗ tú tài, học sinh được cấp bằng Baccalauréat. Từ đây, học sinh có hai lựa chọn: một là thi vào các trường chuyên môn gọi là Grandes Écoles; và hai là thi vào các trường đại học "chính qui".

Nhưng trước khi thi vào các trường Grandes Écoles, học sinh cần phải học thêm khoảng một năm về toán bổ xung và một năm về toán chuyên môn. Sau đó, các học sinh sẽ phải qua một kỳ thi tuyển toàn quốc để được nhận vào các trường như École Normale Supérieure (ENS hay Sư phạm), École Nationale d'Administration (ENA hay Quốc gia Hành chính), École Polytechnique, v.v...

Tuy nhiên, nếu học sinh chọn thi vào các trường chính qui thì không phải học thêm hai năm ở trung học. Theo chương trình của các đại học chính qui, khi đã học xong chương trình đầu tiên đại học (hai năm), sinh viên có thể ra trường với bằng Diplôme Universitaire d'Études des Literature (DUEL) hay d'Études Scientifiques (DUES). Nếu muốn theo học ngành sư phạm để ra dạy trung học, sinh viên cần phải học thêm một năm (hoặc lâu hơn) nữa với mục tiêu lấy văn bằng Lisence (tương đương cử nhân) và các chứng chỉ sư phạm. Tuy nhiên, sau khi có DUEL hay DUES, sinh viên có thể theo học [cao hơn] khoảng 2 tới 3 năm để lấy văn bằng Maitrise (tương đương Master trong hệ thống giáo dục Anh, Mỹ, Úc, v.v.).

Sau khi sinh viên đã có bằng Maitrise, sinh viên muốn học doctorate cần phải trước hết học qua một đến hai năm học để lấy văn bằng Diplôme d'Études Approdondies (DEA) hay Diplôme d'Études Supérieures (DES). Sau khi đã có DEA hay DES, sinh viên có thể xin vào nghiên cứu để viết luận án tiến sĩ. Năm 1964, ba văn bằng được đưa vào hệ thống bằng cấp sau đại học ở Pháp: Doctorat du Troisième Cycle, Doctorat Université và Doctorat d'Etat (11). Thời gian học cho bằng Doctorat du Troisième thường từ hai năm rưỡi tới bốn năm. Đây cũng là một văn bằng cần thiết để dạy đại học. Học vị Doctorat Université thường được cấp cho người nước ngoài, sau khi đã qua một đến hai năm học ở bậc hậu đại học. Người có bằng Doctorat Université không có quyền dạy đại học ở Pháp. Văn bằng Doctorat d'Etat là một học vị cao nhất ở Pháp, và được cấp cho những nhà khoa học xuất sắc, đã qua ít nhất là 2 năm (thường là từ 4 tới 12 năm) nghiên cứu sau văn bằng Doctorat du Troisième Cycle. Bằng cấp này là một điều kiện được bổ nhiệm vào chức vụ

"Professeur" (Giáo sư) đại học.

Sinh viên có văn bằng Diplôme Universitaire, License, hay Maitrise có thể dự thi lấy chứng chỉ Agrégation (thường dịch là Thạc sĩ vào thời trước năm 1975 ở miền Nam Việt Nam). Cần nói thêm rằng Agrégation không phải là một học vị hay bằng cấp, mà chỉ là một "giấy hành nghề" giảng dạy ở vài trường hợp như giáo sư y khoa hay dược khoa (ở Pháp sinh viên học y khoa vô thẳng sau khi thi tú tài), và giáo sư trung học (sau khi ra trường ENS, sinh viên sẽ phải thi để được trao danh hiệu Agrégé vào tên mình).

Hệ thống học vị ở Đức rất khác biệt so với các nước như Anh, Úc và Mỹ. Vào độ 10 tuổi, sau khi đã qua 4 năm tiểu học, học sinh bước vào ngưỡng cửa của một loại trường Gymnasium để học các môn như toán, ngôn ngữ và khoa học tự nhiên. Sau 9 năm học ở cấp bậc Gymnasium, khoảng 25% trong số học sinh tốt nghiệp sẽ vào trường Mittelschule và học thêm khoảng 6 năm. Theo thống kê, mỗi năm có khoảng 50% tới 60% học sinh tốt nghiệp Abitur (tương đương với trung học phổ thông) và có quyền thi vào học đại học. Văn bằng đầu tiên ở bậc đại học là một học vị Doktor, sau khi đã qua ít nhất là 10 tới 13 năm sau khi tốt nghiệp Abitur. Tuy nhiên, phần đông sinh viên không theo đuổi học lâu dài như thế, nhưng họ lại chọn "ra trường" bằng một văn bằng Diplom sau khi đã qua 4 năm đại học. Khoảng mười năm trước, Đức bắt đầu cấp bằng Magister Artium (hay Master of Arts) cho các sinh viên. Bằng cấp này thường cấp cho sinh viên ngoại quốc, những người không muốn qua kỳ thi Staatsexamen để trở thành giáo viên học. Trên lý thuyết, ba văn bằng Diplom, Staatsexamen và Magister là ngang hàng với nhau, nhưng trên thực tế thì khác nhau xa và còn tùy thuộc theo nghành học. Chẳng hạn như trong nghành hóa học, Staatsexamen được xem là thấp hơn Magister. Nhưng trong ngành sử học, người có bằng Staatsexamen được quí trọng và xem cao cấp hơn người có bằng Magister.

Như đề cập trên, trên lý thuyết văn bằng Doktor là học vị đầu tiên của đại học Đức. Sau khi đã tốt nghiệp Doktor, thí sinh phải làm phụ tá nghiên cứu hay giảng dạy một thời gian để thu thập kinh nghiệm tiếp tục theo học văn bằng Habilitation, một học vị cao nhất ở Đức.
Ở Nga và Liên Xô cũ, sau khi xong trung học, học sinh phải trải qua một kỳ thi tuyển vào đại học. Sau 4 hoặc 5 năm theo học và đủ điểm, thí sinh được cấp bằng "diploma". Sau khi đã có bằng diploma, sinh viên phải cạnh tranh vào chương trình hậu đại học. Sau ba năm học và nghiên cứu, thí sinh có thể tốt nghiệp với bằng Kandidat Nauk (Candidate in Science)(12). Sau một thời gian dài nghiên cứu và có thành tích xuất sắc, nhà khoa học có thể trình luận án để được xét cấp văn bằng Doktor Nauk (Doctor of Science)(12). Cũng như ở Đức và Pháp, chỉ có những ngừơi có văn bằng Habilitation hay Doctor d'État mới được bổ nhiệm chức vụ giáo sư đại học, văn bằng Doktor Nauk này là một điều kiện cần thiết để được bổ nhiệm vào chức vụ giáo sư đại học ở Nga.

Một vài so sánh

So với các nước như Mỹ và Anh Quốc, hệ thống bằng cấp ở các nước Pháp, Đức và Nga (hay Liên Xô cũ) có nhiều khác biệt về thời gian đào tạo, đẳng cấp và tên gọi. Ở các nước Âu châu này, hệ thống giáo dục đại học có tính cạnh tranh cao; học sinh được nhận vào học đại học chỉ khi nào đã đỗ một kỳ thi tuyển, có khi rất khó. Ngược lại, ở các nước như Mỹ, Anh Quốc và Úc, học sinh có thể được nhận thẳng vào đại học dựa theo số điểm đạt được trong trung học và kỳ thi tú tài.

Tuy có khác nhau về tên gọi và chương trình huấn luyện, trên bình diện tổng quan, các nước Âu châu này cũng có ba học vị chính: cử nhân, cao học và tiến sĩ. Dựa theo thời gian đào tạo, có thể xem văn bằng Bachelor trong hệ thống Anh-Mỹ tương đương với License của Pháp, Diplom của Đức và Diploma của Nga. Tương tự, có thể xem học vị Master trong hệ thống Anh-Mỹ tương đương với Maitrise của Pháp, Magister của Đức, và một số văn bằng Candidat Nauk của Nga. Cũng dựa theo chương trình và thời gian đào tạo, có thể xem văn bằng Ph.D. của Mỹ và Anh tương đương với Doctorat du Troisième Cycle của Pháp, Doktor của Đức, và một số (không phải tất cả) văn bằng Candidat Nauk của Nga. Văn bằng D.Sc. của Anh và Úc có lẽ tương đương với Doctor d'État của Pháp, Habilitation của Đức và Doktor Nauk của Nga.

Hệ thống học hàm

Học vị là những văn bằng được cấp bởi các cơ sở giáo dục cho học sinh sau khi đã hoàn tất một chương trình học. Học hàm là những chức vụ khoa bảng hoặc do chính phủ hoặc do các trường đại học đề bạt hay trao tặng cho những người giảng dạy hay nghiên cứu khoa học. Thí dụ như Bachelor, Master, và Ph.D. (hay tương đương) là những học vị; và Professor, Lecturer, và Fellow là những học hàm. Ngày nay, hầu hết những người làm công tác giảng dạy đại học đều phải có học vị tối thiểu là Master, nhưng thường là Doctorate hay tương đương.

Trong các trường đại học Tây phương, người ta phân biệt ba cấp nhân viên giảng dạy mà tôi tạm gọi [theo chức năng và trình độ] là: tập sự, trung cấp, và cao cấp. Ở bậc tập sự gồm các chức vụ như Teaching Assistant, Tutor. Proctor, v.v... Những nhân viên này có trách nhiệm làm phụ giảng, chấm bài thi, giám thị trong phòng thí nghiệm, v.v...

Ở bậc trung cấp gồm những nhân viên khoa bảng mang học hàm như Lecturer (ở Anh và Úc), Maitre Assistant (Pháp) và Assistant Professor (Mỹ)(13). Những nhân viên này là những người đang ở bước đầu trong nấc thang sự nghiệp khoa bảng, có nhiệm vụ trực tiếp giảng dạy sinh viên và làm nghiên cứu hoặc độc lập, hoặc dưới sự chỉ đạo của các giáo sư thâm niên.

Trên trung cấp một bậc là những nhân viên khoa bảng mang học hàm Reader (ở Anh và Úc), Maitre de Conférence (Pháp) và Associate Professor (Úc và Mỹ)(14). Những người này là những nhà khoa bảng đang ở trong thời kỳ "quá độ" để chuẩn bị được đề bạt lên một chức vụ khoa bảng cao nhất trong hệ thống học hàm đại học. Trong đại đa số, họ cũng là những nhà nghiên cứu độc lập và có ít nhiều uy tín trong chuyên môn.

Sau cùng là các nhân viên khoa bảng cao cấp, tức những người mang học hàm Professor (ở Mỹ, Anh, và Úc), Professeur (Pháp) hay Senior Fellow (Anh và Úc)(15). Họ là những nhà khoa bảng kinh nghiệm lâu năm và quá trình nghiên cứu có uy tín trên trường quốc tế.

Tiêu chuẩn để được đề bạt vào các chức vụ này thường dựa vào ba cống hiến chính: nghiên cứu, giảng dạy, và phục vụ cộng đồng. Về nghiên cứu, mức độ cống hiến cho kiến thức nhân loại được "đo lường" bằng số lượng và chất lượng các bằng sáng chế (patents) hay các bài báo khoa học (papers) được công bố trong các tạp chí khoa học chuyên môn(16). Tùy theo trường đại học, một Assistant Professor phải có ít nhất là 5 bài báo khoa học; một Associate Professor thường phải có tối thiểu là 30 bài báo khoa học; và một Professor phải có tối thiểu là 50 (thường là 100) bài báo khoa học.

Học hàm "kết hợp"

Ngoài các học hàm được phong hay đề bạt một cách nghiêm túc dựa trên thành tích hoạt động khoa học và giảng dạy, trong một số ngành như y khoa, kinh tế, và kỹ thuật, một số học hàm được trao tặng dựa vào sự quan hệ của người được trao và trường đại học. Trong các bệnh viện, một số bác sĩ chuyên khoa cao cấp, tuy không làm nghiên cứu khoa học và chẳng có công bố công trình khoa học nào đáng kể, có thể được bổ nhiệm chức vụ Lecturer, Assistant Professor, Associate Professor hay thậm chí Professor trong các trường Y.

Tương tự, một số chuyên viên nghiên cứu khoa học trong các công ty thương mại, tuy không giảng dạy, nhưng cũng được trao tặng các chức vụ khoa bảng trên.

Những "nhà khoa bảng" này không được trường đại học trả lương, và không phải là nhân viên chính thức của trường. Nhưng khi họ công bố các bài báo khoa học thì trường có quyền kể những bài báo đó như tài sản tri thức của nhà trường! Tuy nhiên, bù lại, họ được phép dùng những danh xưng khoa bảng của trường trong các văn bản liên quan đến hoạt động khoa học. Những học hàm này thường có chữ "Conjoint" hay "Adjunct" phía trước danh xưng "Professor" hay "Associate Professor" để phân biệt với những học hàm "thật". Việc dùng những danh xưng này, trên lý thuyết, thường được các trường đại học kiểm tra rất gắt gao; nhưng trong thực tế, một số người được trao những học hàm này thường lờ và bỏ đi những chữ "Conjoint" hay "Adjunct" để được người ngoài hiểu như những nhà khoa bảng thật!

Học vị và học hàm danh dự

Hầu như tất cả các trường đại học ở các nước Tây phương đều có những kế hoạch để biểu dương tên tuổi và danh tiếng của trường mình đến với thế giới bên ngoài. Để đạt được mục tiêu này, các trường đại học thường dùng chính sách cấp học vị và học hàm danh dự cho những nhân vật quan trọng trong cộng đồng. Những học vị và học hàm danh dự được trao tặng thường là những văn bằng và chức vụ cao nhất trong đại học: "Tiến sĩ" (Honorary Doctor) hay "Giáo sư" (Honorary Professor). Người được trao tặng không nhất thiết phải là cựu sinh viên hay cựu nhân viên của trường, cũng không cần phải có quá trình học vấn nào, mà có thể là một nhà hoạt động chính trị, nhà hoạt động xã hội, một nghệ sĩ, nhà báo, công chức có tiếng tăm. Ở Úc, cựu Thủ tướng Paul J. Keating, người có trình độ học vấn cấp phổ thông trung học, sau khi rời chính trường, được Trường Đại học New South Wales trao tặng học hàm "Honorary Professor", để ghi nhận đóng góp của ông trong nỗ lực đem tên tuổi nước Úc vào thị trường Á châu.

Những học vị và học hàm danh dự, vì thế, có tính ngoại giao, "hữu nghị", hơn là những chứng chỉ khoa bảng. Do đó, trong thực tế, phần đông những người Tây phương được trao học vị và học hàm danh dự ít khi nào dùng nó như là một thành tích hoạt động khoa bảng hay trình độ học vấn; tuy nhiên, một số đồng hương người Việt lại hay thích ký tên mình kèm theo những danh xưng danh dự nơi công cộng.

Ngoài các học hàm "hữu nghị" này, nhiều trường đại học còn phong chức "Emeritus Professor" (cựu giáo sư) cho các giáo sư đã nghỉ hưu, nhưng vẫn còn gắn bó với trường đại học. Danh hiệu này thường được trao tặng cho các giáo sư có đóng góp lớn cho khoa học, cho trường và đã làm việc tại trường trong một thời gian dài.

Vài chức vụ trong các hội đoàn chuyên môn

Một số ngành nghề chuyên môn như y khoa và kỹ thuật thường được tổ chức khá chặt chẽ, mà trong đó trình độ chuyên môn và đẳng cấp thâm niên được phân chia tương đối rõ ràng. Theo cơ cấu tổ chức này, những người hành nghề phải là hội viên của một hiệp hội chuyên ngành. Hiệp hội này có chức năng đề ra những tiêu chuẩn và qui tắc hành nghề, kiểm tra trình độ chuyên môn của hội viên, và quản lý nhân sự trong tổ chức. Theo định kỳ, thường là hàng năm, các hiệp hội chuyên môn này tổ chức một kỳ thi tuyển để kết nạp hội viên. Chẳng hạn như ở Úc và Anh, các bác sĩ muốn hành nghề chuyên khoa, ngoài việc thực tập một thời gian (khoảng 5 năm), còn phải qua một kỳ thi tuyển vào một "college" chuyên môn như "Royal College of Surgeons" (dành cho các bác sĩ giải phẫu), "Royal College of Radiologists" (dành cho các bác sĩ chuyên khoa bức xạ học), v.v...

Sau khi thi đỗ, thí sinh sẽ được cấp chứng chỉ hành nghề. Những chứng chỉ này thường có chữ "Fellow" phía trước, như "Fellow of the Royal College geons" hay (FRCS). Giới kỹ sư ở Mỹ cũng có những hiệp hội tương tự như trong ngành y khoa, nhưng cách thức thu nạp hội viên và tên gọi của họ khác ngành y khoa.

Tuy nhiên, trong các ngành nghề khác, có rất nhiều hiệp hội chuyên môn hoạt động một cách bán thương mại, và hình thức tổ chức không chặt chẽ như trong ngành y khoa và kỹ thuật. Phần đông những hiệp hội này mở cửa đón nhận tất cả các hội viên, không phân biệt trình độ học vấn và khả năng chuyên môn, ngay cả sinh viên cũng có thể gia nhập, và không phải qua một kỳ thi tuyển nào. Hội viên phải đóng hội phí mỗi năm. Hội viên thường được gọi là "Member", thay vì "Fellow" như các hiệp hội nghiêm túc. Do đó, là hội viên của những hội này không có nghĩa là một bằng chứng về khả năng chuyên môn hay thành tích hoạt động khoa học.

Ngoài các hiệp hội chuyên môn, còn có những hội đoàn bách khoa, mà trong đó thành viên là tất cả các nhà khoa học hoạt động trong mọi lĩnh vực khác nhau. Những hiệp hội này thường có tên "Academy", chẳng hạn như "The National Academy of Sciences of the United States of America" (tức Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ). Không giống như Liên Xô cũ (nơi mà Viện Hàn Lâm Khoa Học Moscow là một trung tâm nghiên cứu), ở các nước Tây phương như Mỹ, Anh và Úc, viện hàn lâm không phải là một viện nghiên cứu, cũng không phải là tập hợp các viện nghiên cứu, mà là một đoàn thể hay tổ chức tư nhân bất vụ lợi, có chức năng chính là: (i) cố vấn cho chính phủ các chính sách liên quan tới khoa học và kỹ thuật; và (ii) giáo dục và cổ động quần chúng về khoa học và vai trò của khoa học trong xã hội.

Đối với phần đông quần chúng, cụm từ "viện hàn lâm" đồng nghĩa với nơi tập trung của những bộ óc siêu việt, những con người thông thái nhất của một quốc gia. Nhưng trong thực tế ở các nước có nền khoa học tiến bộ cao như Mỹ thì điều này chỉ đúng một phần, vì như nói trên, Viện Hàn lâm Khoa học chỉ là một đoàn thể, là một cơ quan đại diện [có thể là cao nhất] cho các nhà khoa học. Hội viên của hàn lâm viện thường do đồng nghiệp tiến cử và bình bầu. Do đó, có nhiều nhà khoa học có thực tài, nhưng không được tiến cử, nên không bao giờ là thành viên của hàn lâm viện! Trong số khoảng 350 nhà khoa học và xã hội Mỹ đoạt giải Nobel, chỉ có 170 người là thành viên của Viện này. Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ có khoảng 1900 thành viên (thường được dịch là "viện sĩ"); trong đó có khoảng 300 là người mang quốc tịch và ở nước ngoài [Mỹ]. Theo tiêu chuẩn chung, họ phải là những nhà khoa học ưu tú trong lĩnh vực chuyên môn, nhưng do tính cách bình bầu, nên nó cũng lộ ra vài vấn đề liên quan đến việc thiên vị và bè phái. Đã có nhiều người cho rằng Viện này là một câu lạc bộ kín ("close club"), nơi mà chỉ có các nhà khoa học quen biết với nhau qua giao thiệp xã giao, hơn là một cơ quan đại diện chân chính cho các nhà khoa học. Điểm qua danh sách của 1900 thành viên thuộc Viện này, người ta có thể tìm thấy tên của nhiều nhà khoa học thường hay xuất hiện trên các hệ thống truyền thông đại chúng hay có nhiều hoạt động xã hội và chính trị như Albert Einstein, James Watson, v.v. Thành ra, nhiều nhà khoa học lớn, những người tự coi họ là làm khoa học loại "thứ thiệt", những người không thích hư danh hay ồn ào trên các hệ thống truyền thông, thì không thích có mặt trong Viện này. Nhà vật lý học lừng danh Richard Feynman, cũng như nhiều nhà khoa học danh tiếng khác, không phải là thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ. Chưa có một khoa học Việt Nam hay gốc Việt nào có chân trong Viện Hàn lâm Quốc gia Khoa học Hoa Kỳ.

Uy tín của một viện hàn lâm không chỉ tùy thuộc vào sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật của một nước, mà còn nhờ vào danh tiếng của các thành viên trong viện. Không ai sẽ ngạc nhiên khi biết rằng các viện hàn lâm khoa học của Mỹ, Anh, Pháp, Đức hay Liên Xô cũ, nơi tập trung các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới, được nhiều người nể trọng hơn là các viện hàn lâm khoa học của các nước Phi châu hay Hồi giáo. Cũng cần phải nói thêm ở đây rằng không phải chỉ khoác cái tên "hàn lâm" (academy) vào một đoàn thể hay cơ quan là tự động thành một viện hàn lâm. Trong các "viện hàn lâm khoa học" ở Mỹ, chỉ có Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ là một cơ quan uy tín nhất; các viện hàn lâm khác, mặc dù cũng dùng chữ "academy", như "The New York Academy of Science" (NYAS hay Viện Hàn Lâm Khoa Học New York) là một đoàn thể thương mại, không có uy tín gì lớn trong cộng đồng khoa học. Bất cứ một sinh viên nào trên thế giới đều có thể trở thành "viện sĩ" nếu họ nộp tiền hội phí hàng năm cho Viện này. Do đó, thành viên của NYAS không phải là một danh dự, không phải là chứng nhận về sự thành đạt trong hoạt động khoa học. Tuy nhiên, tôi thấy đã có nhiều nhà khoa học Việt Nam đã bị lầm và bị "làm tiền" bởi Viện này (17).

Vài nhận xét chung

Người không quen với hệ thống khoa bảng và bằng cấp có thể sẽ thấy chóng mặt với những tên gọi những học vị và học hàm trên đây, và sẽ đặt câu hỏi là người được cấp những văn bằng này phải đạt những tiêu chuẩn gì. Thực ra, đứng trên bình diện quốc gia, không có tiêu chuẩn nhất quán giữa các trường đại học trong việc cấp những văn bằng này. Mỗi trường đại học có những tiêu chuẩn riêng. Có khi mỗi thí sinh cũng được xét theo từng trường hợp riêng biệt. Có sinh viên ra trường tiến sĩ chỉ trong vòng sau 3 hay thậm chí 2 năm theo học, nhưng cũng có sinh viên phải miệt mài cả tám năm để lấy mảnh bằng Tiến sĩ. Cũng có những trường hợp hiếm hoi khi sinh viên theo học chương trình Tiến sĩ, nhưng khi ra trường chỉ được thẩm định và cấp bằng Cao học. Lại có người nghiên cứu cả mười năm, nhưng chẳng viết được luận án gì!

Đôi khi, tự những học vị Ph.D., M.S., B.S. nó bao hàm một nội dung rộng đến mức... chẳng có nghĩa gì cụ thể. Trên lý thuyết, văn bằng Ph.D. là học vị cao nhất ở Mỹ và Úc; tuy nhiên, cũng có nhiều "loại" Ph.D. với nhiều chất lượng khác nhau. Có nhiều người có văn bằng Ph.D., nhưng độ hiểu sâu và kiến thức chưa chắc đã hơn một người có học vị Cử nhân, thậm chí Tú tài, thời Pháp thuộc ở Việt Nam.

Ngoài ra, ở Mỹ còn có tệ nạn "nhà máy văn bằng" (diploma mills) hoạt động hoặc dưới hình thức dạy học hàm thụ, hoặc qua hệ thống dạy học từ xa với sự trợ giúp của máy vi tính và mạng internet. Phần lớn những trường này thực chất chỉ là những văn phòng nhỏ tại nhà, thậm chí chỉ là nhà để xe hay nhà bếp, nhưng họ lại tự gắn cho họ những cái tên "lập lờ đánh lận con đen" (mà nếu công chúng không để ý kỹ có thể lẫn lộn với những trường danh tiếng của Mỹ) như "Harbard University", "Universitas Harvardiana", "Atlanta Southern University", v.v... Mục đích duy nhất của các sơ sở thương mại này là bán bằng cấp với giá từ 3000 tới 5000 đô-la Mỹ. Có "trường" còn bán tới 500 bằng tiến sĩ hàng tháng! Do đó, một học vị, nếu không "đi kèm" với một trường đại học nghiêm chỉnh được công nhận, cũng có thể không có giá trị khoa bảng gì.

Tiêu chuẩn và phẩm chất học hàm thường mang tính địa phương; tức là cũng có sự khác nhau giữa các thời điểm, giữa các nước, và thậm chí giữa các trường đại học trong cùng một nước. Một vị Professor ở Mỹ có thể chỉ được xem tương đương với một Associate Professor ở Pháp hay Anh, và ngược lại. Tương tự, một Assistant Professor ở một trường danh tiếng tại Mỹ có thể trở thành Professor ở Nhật, Hồng Kông hay Singapore.

Thời điểm cũng là một yếu tố quan trọng. Vài mươi năm trước đây, ở các nước như Anh, Úc, Pháp, Đức và Nga, mỗi Ban chuyên môn (Department) trong một trường đại học chỉ có một người duy nhất mang học hàm "Professor", những người còn lại chỉ là "Associate Professor" hay "Lecturer". Những vị người mang hàm "Professor" thời đó được phép dùng danh hiệu này suốt đời, dù họ chuyển từ trường đại học này sang trường đại học khác. Học hàm "Professor", do đó, cực kỳ cao quí ở các nước này trong thời gian trước đây. Nhưng ở một góc độ khác, có thể nói vấn đề một-Professor này cũng là nguyên nhân làm cho nhiều nhà khoa bảng ở các nước trên chuyển sang Mỹ nghiên cứu và giảng dạy, vì ở Mỹ, một Ban có thể có nhiều (thậm chí hàng trăm) người mang hàm "Professor". Các nhà khoa bảng trẻ ở Mỹ không phải chờ đến lúc lục tuần để được phong hàm "Professor"! Tuy nhiên, để chống lại dòng "chảy chất sám" này, ngày nay, ở các nước như Anh, Đức và Úc, học hàm "Professor" đã được "Mỹ hoá", và mỗi Ban có thể có nhiều người mang học hàm "Professor". Các nhà khoa bảng trẻ do đó có cơ hội mang học hàm này hơn trước.

Vì học hàm "Professor" bị Mỹ hóa, ngày nay, có quá nhiều Professor và phân biệt ai giỏi, ai dở là một việc làm cực kỳ khó khăn vì trong nhiều trường hợp, học hàm này không còn phản ảnh trung thực khả năng chuyên môn của nhà khoa bảng nữa. Thực vậy, nhiều giáo sư ở các trường đại học lớn ở Mỹ và Úc cũng có thể "dốt" (huống hồ chi là học trò Ph.D!) Ngược lại, cũng có vô số người không có học hàm "Giáo sư" nhưng lại cực kỳ giỏi. Cũng có nhiều nhà khoa bảng có hàng trăm bài báo khoa học và trên phương diện chuyên môn, còn danh tiếng hơn nhiều Professors khác, nhưng họ chỉ giữ chức Assistant Professor, thậm chí không có học hàm nào! Thành ra, trong hoạt động khoa học, bằng cấp và danh xưng là những điều không được đặt nặng. Thực ra, đối với phần lớn các nhà khoa học chân chính, những học hàm và danh xưng hoàn toàn vô nghĩa, ngoài việc gây ấn tượng và "lấy le" với những người dân thường hay những nhà chính trị thiếu hiểu biết về hoạt động khoa học.

Xuất phát từ truyền thống lâu đời, người Việt Nam ta trọng giới khoa bảng và những người có bằng cấp cao. Nhưng sự trọng bằng cấp của số đông dân chúng đã sinh ra tệ nạn khệnh khạng bằng cấp trong giới có học hay có chút chữ nghĩa. Ngày nay, chỉ cần mở một tờ báo Việt ngữ hải ngoại ở California hay Sydney, người ta sẽ phải chóng mặt về những bằng cấp và danh xưng của các vị cử nhân, luật sư, kỹ sư, tiến sĩ, giáo sư, này nọ. Cố nhiên, một số bằng cấp và học hàm này là thật, do chính đương sự đạt được trong quá trình học tập và nghiên cứu, nhưng cũng có một số là những bằng cấp được chuyển ngữ một cách bịp bợm, nhằm lòe đồng hương, hay thậm chí một số học vị và học hàm "dỏm". Thực vậy, có lẽ do nhu cầu kinh tế hay môt lý do nào đó, người có bằng cấp, do vô tình hay cố ý, cũng đã đôi khi lạm dụng bằng cấp của mình và danh xưng. Nhiều trường hợp, người ta quảng cáo là "Giáo sư" một đại học nào đó, nhưng lại cố tình lờ đi thực chất học hàm đó chỉ là một chức "Conjoint" hay trường hợp người ta quảng cáo là "Fellow" của một đoàn thể chuyên môn về giải phẫu, nhưng trên thực tế họ chỉ là "Member"! Có người chỉ có văn bằng cử nhân (không phải y khoa) nhưng lại tự xưng là "bác sĩ" giữa công cộng!(18)

Sự khệnh khạng bằng cấp và hám danh không chỉ có trong cộng đồng người Việt hải ngoại, mà còn rất phổ biến ở trong nước. Ở Việt Nam, có thời người ta còn phân biệt Tiến sĩ đệ tam cấp, Phó tiến sĩ và Tiến sĩ. Cũng như ở một vài nước Âu châu, ở Việt Nam, một số nhà khoa bảng thích dùng cả hai học hàm và học vị trước tên của họ, kiểu như "Giáo sư Tiến sĩ ABC". Thậm chí có thời người ta còn phân biệt "Giáo sư I" và "Giáo sư II"!? Trong các buổi lễ tốt nghiệp, người ta đọc tên các vị giáo sư kèm theo những học vị và học hàm dài lê thê, khiến cho người nghe phải sốt ruột. Một nhà khoa học danh tiếng ở trong nước và cũng là một nhà toán học có tiếng trên thế giới có lần nhận xét một cách chua chát: "Không có nước văn minh nào mà trên mặt báo hay các buổi lễ long trọng xuất hiện một mật độ học vị, bằng cấp, chức danh khoa học dày đặc nhưng không mấy tương xứng với thực chất như nước ta." Tôi thiết tưởng nhận xét này vẫn hợp với tình hình trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại.

Cuối cùng, một điều khá phổ biến trong những người có bằng cấp là họ thường hay nghĩ rằng học vị và học hàm của họ là ưu việt hơn bằng cấp của người khác, trường đại học hay cao đẳng và các giáo sư mà họ theo học là danh tiếng hơn, tốt hơn, giỏi hơn, v. v... những nơi khác và giáo sư khác. Điều này không những chỉ thấy ở giữa cá nhân, mà còn giữa các quốc gia. Dù không nói ra cụ thể, nhưng chất lượng bằng cấp thường được đánh giá một cách chung chung dựa vào nền khoa học kỹ thuật của một nước hơn là dựa vào khả năng của người có bằng cấp. Chính vì thế mà những nước đã phát triển như Mỹ, Anh, Úc, Pháp, v.v. không chịu công nhận bằng cấp từ các nước nghèo hơn như Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, v.v... Lý do không công nhận bằng cấp nước ngoài thường được núp dưới danh nghĩa "tiêu chuẩn", tức là theo họ, những chuyên viên được đào tạo trong các nước đang phát triển có tiêu chuẩn thấp hay không đạt tiêu chuẩn mà họ đưa ra.

Chính người viết bài này từng được hỏi một cách hết sức mỉa mai là "Anh biết làm phân số không?" khi xin học lại đại học ở Sydney (Úc)! Thật là khôi hài và ấu trĩ nếu người Úc cho rằng kỹ sư của họ tài giỏi hơn kỹ sư người Đức, hay bác sĩ của họ được đào tạo kỹ hơn các bác sĩ người Mỹ hay Pháp, hay các nhà toán học của Úc khá hơn các nhà toán học Việt Nam hay Ấn Độ. Thế mà đó là những nguyên nhân họ đưa ra để không chịu công nhận bằng cấp của các nước ngoài Úc! Nhưng xét cho cùng, ngoài một vài lý do chính đáng, sự không công nhận bằng cấp nước ngoài cũng là một cách phô trương thanh thế của họ, những nước giàu có, và bảo vệ thị trường lao động cho sinh viên người bản xứ, chứ chẳng liên quan gì đến tiêu chuẩn và phẩm chất đào tạo.

Mục đích thực và chính của việc học hành là để mở mang trí tuệ, trau giồi kiến thức, rèn luyện nhân cách, và làm người hữu ích cho xã hội. Bằng cấp và chức vụ khoa bảng không phải dùng để đo những kết quả trên, mà chỉ là những phân chia đẳng cấp khoa bảng rất tương đối. Bằng cấp, dù là học vị cao nhất như tiến sĩ, chỉ là một bước đầu trong hoạt động khoa học, và tự nó không nói lên được khả năng chuyên môn của nhà khoa học. Tương tự, một học hàm cao nhất như giáo sư cũng không phản ánh chính xác được mức độ đóng góp vào kho tàng tri thức của nhân loại. Người trí thức chân chính chỉ nghĩ đến những đóng góp có giá trị nhằm đem lại phúc lợi thực sự cho nhân loại, và không bao giờ phụ thuộc vào học vị, học hàm hay các danh xưng phù phiếm để gây ảnh hưởng trong cộng đồng.

Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn

Ghi chú

Người viết bài này xin chân thành cám ơn anh Tiến sĩ Mai Thanh Truyết, một Nhà giáo Việt Nam, người đã đọc bản thảo và góp ý làm sáng tỏ hơn về hệ thống bằng cấp ở Pháp.

[1] Thực ra, Universitas of Doctors chỉ là một hiệp hội (Guild) của những "Thầy". Theo tiếng Latin, chữ Doctorem cũng có nghĩa là "Thầy".

[2] Nhiều tờ báo Việt ngữ hải ngoại thường dịch [không chính xác] những trường "Community College" ở Mỹ là "Đại học cộng đồng", và những người tốt nghiệp từ các trường này là "kỹ sư".

[3] Tuy nhiên, trong những năm gần đây các trường này đều trở thành đại học chính thức. Chẳng hạn như trường "University College of Bristol" tuy thành lập từ năm 1876, nhưng mãi đến năm 1909 mới được công nhận là "The University of Bristol"!

[4] Ở Việt Nam còn xảy ra một sự ngộ nhận hết sức "tai hại" trên báo chí về một em học sinh người Việt Nam, 17 tuổi, đỗ đầu ở một trường trung học tư thục ở Anh; nhưng có lẽ vì nhầm lẫn trường "college" mà em theo học là "đại học", nên nhà báo đã vội viết bài ca ngợi em là một "thần đồng tốt nghiệp đại học năm 17 tuổi"!

[5] Tôi không biết tiếng Việt ta có danh từ nào để dịch văn bằng "Associate". Có người đề nghị dùng "Chứng chỉ" để dịch chữ này; tuy nhiên "Chứng chỉ" có lẽ chính xác hơn với "Certificate". Tôi đề nghị dùng cụm từ "Cử nhân dự khuyết" cho văn bằng "Associate".

[6] Hai văn bằng Bachelor of Science (B.Sc. hay B.S.) và Bachelor of Arts (B.A.) thường được dịch là "Cử nhân Khoa học" và "Cử nhân Văn chương". Tuy nhiên, hai văn bằng này rất bao quát. Một sinh viên theo học môn Tâm lý học (Psychology) có thể tốt nghiệp với văn bằng B.A. nếu bộ môn này chịu sự quản lý của phân khoa Văn chương (Faculty of Arts), hoặc B.Sc. nếu bộ môn Tâm lý học chịu sự quản lý của phân khoa Khoa học (Faculty of Science).

[7] Dựa vào tính cách đào tạo và chương trình học, tôi đề nghị dùng cụm từ "Cao học dự khuyết" cho văn bằng "Graduate Diploma".

[8] Ở hải ngoại, văn bằng Master thường được dịch là "Cao học". Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, chính quyền trong nước đã có văn bẳn chính thức gọi những người có văn bằng Master là "Thạc sĩ".

[9] "Doctorate" là một danh từ chung dùng để chỉ học vị "Tiến sĩ". Chữ "Tiến sĩ" có lẽ được xuất phát từ chữ Hán mà tiếng Anh phiên âm là "Chin-shih" (và tiếng Anh dịch là "Doctor"). Hình như văn bằng này được cấp lần đầu tiên vào năm 1313 (dưới triều đại nhà Tống); vào năm này, một cuộc thi tuyển đặt dưới sự chủ tọa của vua được tổ chức. Qua kết quả của kỳ thi này, có 300 thí sinh được cấp danh hiệu Chin-shih; trong số này, có 75 người gốc Mông Cổ, 75 người quê quán ở miền Nam Trung Quốc, 75 người quê quán ở miền Bắc Trung Quốc, và 75 người có quốc tịch ngoại quốc.

[10] Trong một bài báo gần đây ở trong nước, một nhà giáo dục đề nghị dùng cụm từ "Tiến sĩ cao cấp" để gọi các thí sinh này!

[11] Học vị Doctorat du Troisième Cycle thường được dịch sang tiếng Việt là "Tiến sĩ đệ tam cấp", và Doctorat d'Etat là "Tiến sĩ quốc gia". Tôi không rõ học vị Doctorat Université được dịch sang tiếng Việt là gì.

[12] Ở trong nước, Kandidat Nauk (Candidate in Science) được dịch là "Phó Tiến Sĩ", và Doktor Nauk (Doctor of Science) được dịch là "Tiến Sĩ". Tuy nhiên, trong năm 1999, Chính phủ Việt Nam đã có quyết định gọi cả hai văn bằng này chung là "Tiến sĩ".

[13] Trong các đại học Anh và Úc, không có chức vụ Assistant Professor, và những chức vụ như Lecturer và Senior Lecturer được xem là tương đương hay cao hơn với Assistant Professor của Mỹ. Tuy được gọi là "Assistant Professor", nhưng những giáo sư này không phải là phụ tá (assistant) cho các giáo sư cao hơn, mà là một giáo sư hoàn toàn độc lập. Vì thế, các học hàm ở bậc này có lẽ nên dịch sang tiếng Việt là "Giảng sư".

[14] Trong một vài trường đại học theo hệ thống của Anh Quốc, học hàm "Reader" được xem là tương đương với "Associate Professor". Ở trong nước, Associate Professor được dịch là "Phó Giáo sư".

[15] Học hàm "Professor" thường được dịch là "Giáo sư" ở trong nước. Đây là một học hàm cao nhất trong đại học. Tuy nhiên, cũng có trường đại học ở Mỹ phong học hàm "University Professor" (thường được xem là cao hơn cả "Professor") cho các giáo sư có thành tích nghiên cứu khoa học xuất sắc và có đóng góp lớn cho trường.

[16] Các bài báo này thường phải qua một giai đoạn "kiểm duyệt" tương đối gắt gao (thường từ 6 tháng đến một năm) trước khi được chấp nhận cho xuất bản. Người kiểm duyệt thường là đồng nghiệp làm cùng ngành, nhưng đương sự (người có bài báo được duyệt xét) không biết họ là ai. Các tạp chí có chất lượng cao chỉ nhận công bố khoảng 1 tới 20% các bài báo khoa học được gửi tới tòa soạn. Vì thế, nhá khoa học nào có nhiều công trình được công bố trên các tờ tạp chí có uy tín thường dễ được nể trọng trong ngành nghề của mình, và có cơ hội được thăng tiến trong nấc thang khoa bảng.

[17] Ở trong nước, các thành viên trong các Academy (Hàn lâm viện) thường được gọi là "Viện sĩ" (Hay Academician). Đây là một học hàm rất nghiêm túc. Tuy nhiên, phần đông các nhà khoa học ở trong nước và ngay cả ở hải ngoại hình như vẫn chưa phân biệt được sự khác nhau giữa một viện hàn lâm nghiêm túc và những viện hàn lâm thiếu nghiêm túc như "The New York Academy of Science", nên vẫn tự nhận mình là "Viện sĩ" trong các viện hàn lâm "dỏm" này.

[18] Có người Việt tốt nghiệp Bachelor of Optometry (tạm dịch: Cử nhân Khúc xạ học, tức là đo mắt), nhưng anh lại trịnh trọng quảng cáo là "Bác sĩ Nhãn khoa". 
Nguyễn Văn Tuấn

Fukushima 1 không phải là Chernobyl thứ 2

Tác giả: TS Nguyễn Đình Đăng (Tokyo- Nhật Bản)
Bài đã được xuất bản.: 19/03/2011 05:00 GMT+7

Một vụ nổ như tại Chernobyl hầu như không có khả năng xảy trong sự cố NMĐNT Fukushima 1 bởi, từ lúc 14:48 ngày 13/3, ngay sau khi xảy ra động đất, hệ thống tắt tự động đã dừng ngay các phản ứng dây chuyền trong tất cả các lò. Khả năng các lò này phát nổ như một "quả bom bẩn" (dirty bomb) Chernobyl đã được loại trừ.

Cường điệu và cảm tính

Khi tôi viết những dòng này, trận động đất 9 độ Richter và sóng thần cao 10m tại tỉnh vùng Iwate - Miagi - Fukushima, Nhật Bản đã cướp đi sinh mạng của 5692 người, làm 9506 người mất tích*), đồng thời gây ra tai hoạ tại nhà máy điện nguyên tử (NMĐNT) Fukushima 1. Tin động đất hiện tràn ngập các phương tiện truyền thông thế giới trong đó có Việt Nam.

Các thông tin được đưa ra dồn dập, với những cách viết cường điệu đầy cảm tính, thậm chí theo xu hướng nhằm gây thất thiệt, đã khiến nhiều độc giả ở ngoài Nhật Bản, đặc biệt là tại Việt Nam, có một tâm trạng lo sợ gần như hoảng loạn. Trong bài này chúng ta hãy bình tĩnh phân tích tai hoạ tại Fukushima 1 để hiểu rõ mức độ thiệt hại như thế nào và tại sao đây không phải là một Chernobyl thứ 2 như một số nhà "tiên tri" từng cảnh báo.

NMĐNT Fukushima 1 đi vào sử dụng từ năm 1971, toạ lạc tại tỉnh Fukushima cách Tokyo 241 km về phía đông bắc. Nhà máy có 6 lò phản ứng dùng nước sôi (BWR = boiling water reactor). Ngoài ra 2 lò phản ứng mới đang được xây dựng. Tất cả 6 lò này đều được hãng General Electric của Mỹ thiết kế. Các lò 1, 2, và 6 do hãng General Electric sản xuất, trong khi lò số 3 do hãng Toshiba và lò số 4 do hãng Hitachi sản xuất. Trận động đất ngày 11/3/2011 đã làm nổ các toà nhà của lò phản ứng số 1 - 3, và cháy tại lò số 4. Đây là các lò loại BWR Mark I (Xem hình 1).

Hình 1: Tiết diện lò PRW Mark I

Lò BWR hoạt động theo nguyên tắc như sau. Phản ứng phân hạch toả ra nhiệt, đun sôi nước, tạo ra hơi nước sôi làm quay các turbine chạy máy phát ra điện. Hơi nước sau đó được nước dẫn từ ngoài vào làm lạnh, ngưng tụ lại thành nước. Nước này lại được bơm ngược trở lại lò phản ứng để được nhiệt đun sôi làm bốc hơi.

Nhiên liệu hạt nhân, chủ yếu là gốm uranium dioxide UO2 (UOX) hay oxide hỗn hợp gồm 7% plutonium và 93% uranium (Mixed oxide hay MOX). MOX được dùng trong lò số 3 của NMĐNT Fukushima 1. Uranium dioxide có nhiệt độ nóng chảy khoảng 3000 độ C. Nhiên liệu hạt nhân được sản xuất dưới dạng các viên nhỏ hình trụ đường kính khoảng 10 mm, trông như viên thuốc (Hình 2).

Hình 2: Viên nhiên liệu

Các viên nhiên liệu này được nhét vào những ống dài khoảng 4.5 m, gắn kín làm bằng hợp kim zirconium, thiếc, kền và sắt (Zircalloy), có nhiệt độ nóng chảy khoảng 2200 độ C, gọi là các thanh nhiên liệu. Những thanh nhiên liệu được ghép thành từng bó (Hình 3) tạo thành lõi của lò phản ứng (1 trong Hình 1), chứa vài trăm thanh nhiên liệu. Như vậy Zircalloy tạo thành lớp vỏ thứ nhất ngăn cách chất phóng xạ và bên ngoài. Lõi lò được đặt trong buồng áp suất, tạo thành lớp vỏ thứ hai, đảm bảo giữ cho lõi lò hoạt động an toàn ở nhiệt độ tới vài trăm độ C. (Hình 3: Bó thanh nhiên liệu)

Hình 3: Bó thanh nhiên liệu

Điều tối quan trọng của NMĐNT là toàn bộ hệ thống phải đảm bảo cân bằng năng lượng, có nghĩa là nhiệt năng do lõi lò sản xuất ra phải bằng nhiệt năng được tiêu thụ (cho việc chạy các turbines). Để đảm bảo an toàn trong trường hợp mất cân bằng năng lượng, khiến áp suất trong lò tăng cao, người ta thiết kế một hệ thống làm giảm áp suất mang tên Mark I, Mark II, và Mark III.

Trong tất cả các thiết kế này buồng áp suất cùng các ống dẫn, hệ thống máy bơm, hệ thống dự trữ nước làm lạnh, được gắn kín trong một cái hầm làm bằng bê-tông cốt thép, rất dày để có thể chứa vô thời hạn nếu lò tan chảy. Hầm chứa này gồm 3 phần: giếng khô (Hình 1: DW), giếng ướt (Hình 1: WW) có bể giảm áp chứa nước và hệ thống ống thoát.

Toàn bộ hệ thống này được đặt trong một toà nhà, che chắn cho lò và bể chứa các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng (Hình 1: B). Đây là những toà nhà đã bị cháy hay nổ tung tại các lò số 1, 2, 3 và 4 của NMĐNT Fukushima 1.

Phản ứng phân hạch xảy ra như thế nào?

Đầu tiên các hạt nhân uranium trong các thanh nhiên liệu phân hạch tự phát phóng ra các hạt neutrons chậm (còn gọi là neutron nhiệt). Hạt neutron bắn vỡ hạt nhân uranium 235, phóng ra vài hạt neutrons mới. Các hạt neutrons này lại bắn phá các hạt nhân unranium 235 bên cạnh, tạo ra nhiều neutrons hơn, gây nên phản ứng dây chuyền.

Mỗi lần hạt nhân uranium 235 hấp thụ một hạt neutron, trở thành uranium 236, rồi bị phân mảnh, thì một năng lượng lớn lại thoát ra, lớn gấp hàng chục tới trăm triệu lần năng lượng được tạo bởi đốt than trong nhà máy nhiệt điện. Để điều khiển phản ứng hạt nhân dây chuyền trong lò phản ứng, người ta dùng các thanh điều khiển. Các thanh nhiên liệu được làm từ hợp kim của các nguyên tố kim loại có khả năng hấp thụ neutron mà bản thân không bị phân hạch, ví dụ hợp kim bạc-indium-cadmium.

Khi các thanh điều khiển cắm sâu vào giữa các bó thanh nhiên liệu, chúng hấp thụ neutrons, khiến neutrons không còn bắn phá được các hạt nhân uranium 235 nữa, nên phản ứng dây chuyền dừng lại.

Tuy nhiên, sau khi phản ứng phân hạch đã dừng lại rồi, uranium không phân hạch nữa, nhưng một lô các nguyên tố phóng xạ trung gian, sinh ra trong quá trình phân mảnh, như iodine và cesium tiếp tục phân rã và sản ra nhiệt. Vì không phải là phân rã dây chuyền nên số lượng của các nguyên tố này giảm dần. Kết quả là lò phản ứng nguội dần cho đến khi nào các nguyên tố trung gian đó phân rã hết. Quá trình nguội lò này thông thường kéo dài vài ngày. Nhiệt được tạo ra do các nguyên tố trung gian phân rã được gọi là nhiệt dư.

Như vậy các nguyên tố phóng xạ ở đây là uranium trong các thanh nhiên liệu, tạo ra nhiệt chạy turbines phát điện, và các nguyên tố phóng xạ trung gian, iodine và cesium, tạo ra nhiệt dư.

Còn một loại nguyên tố phóng xạ khác, được tạo ra bên ngoài các bó thanh nhiên liệu. Loại nguyên tố phóng xạ này sinh ra khi một số hạt neutrons, thay vì va chạm với các hạt nhân uranium trong các thanh nhiên liệu, lại thoát ra khỏi bó thanh nhiên liệu, húc vào các phân tử nước, hay khí quyển trong nước. Khi đó nguyên tố phi phóng xạ trong nước hay khí quyển hấp thụ hạt neutron, trở thành phóng xạ, như nitrogen 16, các khí trơ như argon, v.v. Nhưng những chất phóng xạ này có thời gian sống rất ngắn, chỉ độ vài giây, sau đó chúng bị phân hủy ngay thành các nguyên tố phi phóng xạ vô hại.

Sự cố tại NMĐNT Fukushima 1 đã xảy ra như thế nào?

NMĐNT Fukushima 1 được thiết kế chịu được động đất mạnh 7.9 độ Richter. Trận động đất hôm 13/1/2011 mạnh 9 độ Richter tại tâm địa chấn ngoài biển cách đất liền 126 km, tương đương sức công phá của 474 triệu tấn thuốc nổ TNT, gấp gần 50 lần sức chịu đựng của nhà máy.

Khi vào tới bờ, sức mạnh của động đất đã giảm xuống dưới 7.9 độ Richter, tức nằm trong giới hạn chịu đựng của nhà máy. Rủi thay trong thiết kế của nhà máy không lường trước khả năng tàn phá của sóng thần (tsunami) cao tới 10 m, mà không ai tưởng tượng nổi.

Ngay sau khi động đất vào lúc 14:46, hệ thống tắt tự động đã cấm các thanh điều khiển vào lõi lò, làm ngừng phản ứng phân hạch trong tất cả 5 lò vào lúc 14:48 (Lò số 4 đang ở trong tình trạng bảo dưỡng nên đã ngừng hoạt động 4 tháng trước đó). Như vậy chỉ còn lại nhiệt dư, chiếm khoảng 3% toàn bộ nhiệt năng sinh ra trong lò, là thứ cần phải dùng nước lạnh để làm nguội.

Hệ thống làm lạnh cần điện để chạy máy bơm, nhưng toàn bộ các lò phản ứng đã ngừng hoạt động, không sản ra điện nữa, ngoài ra toàn bộ các trạm phát điện khác xung quanh đã bị động đất làm tê liệt. Người ta phải dùng máy phát điện chạy bằng động cơ Diesel.

Nhưng sóng thần cao 10m ập đến, làm tê liệt hoàn toàn các động cơ Diesel dùng để chạy máy phát điện đi. Người ta buộc phải dùng tới battery dự trữ để chạy máy phát điện, nhưng chỉ được 8 giờ đồng hồ là hết pin. Trong thời gian 8 giờ đó người ta vận chuyển động cơ Diesel lưu động đến, nhưng không nối được.

Kết quả là sau khi hết nguồn điện dự trữ, nhiệt dư không thể làm nguội đi được nữa, đặt NMĐNT Fukushima 1 trước nguy cơ lõi lò bị tan chảy. Thế nào là lõi lò bị tan chảy? Do không đủ nước ngập các bó thanh nhiên liệu (các ống Zircalloy) bị lộ ra khỏi mặt nước (tiếng Ang gọi là bị exposed), tiếp tục nóng lên. Khoảng 45 phút sau, nhiệt độ vượt ngưỡng tới hạn 2200 độ C làm chảy vỏ gốm Zircalloy bao bọc các viên uranium oxide.

Sau khi đã dùng mọi phương án làm nguội lò nhưng bất thành, người ta buộc phải hạ áp suất trong lò bằng cách xả hơi nước tích tụ trong buồng áp suất ra ngoài qua các van. Nhiệt độ lúc này khoảng 500 - 600 độ C. Nhằm tránh xả hơi thẳng vào môi trường bên ngoài, người ta đã xả hơi vào phần không gian trong toà nhà bao bọc lò phản ứng. Như trên đã đề cập, toà nhà này có tác dụng chủ yếu là che chắn mưa nắng cho lò phản ứng. Tòa nhà này bị hư hại không có nghĩa là lò phản ứng bị hư hại.

Nếu bó nhiên liệu không bị tan chảy, hơi được xả ra mang theo nhiều nguyên tố phóng xạ trung gian đã đề cập ở trên, như nitrogen hay argon, không gây nguy hiểm cho con người. Tại nhiệt độ rất cao như vậy hơi nước bị phân tách thành hợp chất của khí hydrogen và oxygen, gây phản ứng nổ. Bên cạnh đó, nếu vỏ gốm Zircalloy bị hư hại, sẽ xảy ra phản ứng oxy hoá zirconium, làm hydrogen thoát ra ngoài, kết hợp với oxygen tại nhiệt độ cao, gây phản ứng nổ.  Đó là vì sao các toà nhà lò phản ửng 1 - 3 bị nổ và lò 4 bốc cháy.

Như vậy vấn đề áp suất xem như đã được giải quyết. Tuy nhiên, nếu lò không được làm nguội, nước bốc hơi làm mực nước cạn, lộ các bó thanh nhiên liệu ra, khiến các thanh nhiên liệu bị tan chảy, như đã đề cập ở trên. Khi tan chảy như vậy, các nguyên tố sản phẩm phụ như iodine và cesium sinh ra trong quá trình phân rã uranium thoát ra hoà vào hơi nước xả ra ngoài.

Khác với các nguyên tố phóng xạ trung gian sinh ra bên ngoài các thanh nhiên liệu, có thời gian sống chỉ vài giây, cesium 134 có thời gian sống 2 năm còn cesium 137 có thời gian sống tới 30 năm. Iodine gây nguy hiểm cho tuyến giáp, vì tuyến giáp hấp thụ iodine trong máu. May thay iodine có thể được dung hoà bằng cách uống potassium iodide (uống 130 mg/1 ngày).

Còn cesium, tuy không tích tụ lâu trong người do thoát ra theo đường bài tiết qua mồ hôi và nước tiểu, nhưng đọng lại trong đất, nước, thực vật. Động vật trong đó có người bị nhiễm liên tục qua đường tiêu hoá sẽ bị ung thư và vô sinh. Việc độ phóng xạ đo được rất cao bên ngoài nhà máy ngay sau khi các toà nhà nổ tung, nhưng giảm đi nhanh chóng, cho thấy phần lớn đó là các nguyên tố phóng xạ trung gian gây nhiệt dư. Trong khi đó việc đo được iodine và cesium trong phóng xạ thoát ra là dấu hiệu cho thấy một phần của lõi lò đã bị tan chảy.

Để tránh bị kích hoạt trở thành chất phóng xạ, nước dùng làm nguội lò phải là nước sạch khỏi các khoáng chất. Nếu nước chứa muối hay các tạp chất khác, những chất này sẽ hấp thụ neutron, trở nên chất phóng xạ. Đối với việc làm nguội lõi lò thì việc dùng nước gì không thành vấn đề. Nhưng xử lý nước nhiễm phóng xạ sẽ gây nhiều khó khăn. Nhưng nước sạch không đủ, và người ta đã buộc phải bơm nước biển hoà boric acide vào để làm nguội lò. Boron trong boric acid hấp thu các neutrons còn sót lại, đóng vai trò chất xúc tác đẩy nhanh quá trình làm nguội lò.

Trong trường hợp tồi tệ nhất, nếu không làm nguội được lò, người ta vẫn phải tiếp tục xả hơi để làm giảm áp suất trong buồng lò. Sau đó người sẽ buộc phải hàn kín hầm bê tông cốt thép chứa giếng khô, giếng ướt cùng bể giảm áp, để cho lõi lò tan chảy trong đó mà không xả chất phóng xạ ra ngoài. Rồi người ta lại phải đợi một thời gian để các nguyên tố phóng xạ trung gian phân rã. Trong thời gian đó hệ thống làm lạnh phải được phục hồi để làm nguội toàn bộ hầm bê tông chứa lõI đã bị tan chảy. Tiếp đến là công việc nặng nhọc nạo vét hầm lò xử lý các chất thải của lõi lò đã bị chảy. Việc thu dọn chiến trường này kéo dài vài năm. Các lò bị đánh đắm bằng nước biển là những lò hỏng vĩnh viễn, không thể nào chữa đi để tái sử dụng được nữa.

Vấn đề cấp bách phát sinh: Làm nguội các bó thanh nhiên liệu đã sử dụng

(Hình 4: Bể chứa các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng)

Sau khi đã qua sử dụng, các thanh nhiên liệu được rút ra khỏi lõi lò, ngâm trong nước trong một bể chứa (spent fuel pool) nằm ngoài buồng áp suất (Hình 1: SF). Bể này (Hình 4) chứa 2000 tấn nước, hở phía trên để người ta dễ vận chuyển các thanh nhiên liệu đã dùng và đã được làm lạnh, đem đi xử lý. Phần che chắn duy nhất của bể chứa là toà nhà bao bọc lò phản ứng. Bể cần 50 tấn nước chảy qua mỗi ngày để làm nguội các thành nhiên liệu.

Nếu nước không đủ, hoặc bể chứa bị vụ nổ khí hydrogen thoát ra từ lò trước đó làm hư hại khiến nước thoát ra ngoài, mực nước sẽ thấp xuống, làm một phần các thanh nhiên liệu bị lộ ra khỏi mặt nước, tiếp xúc trực tiếp với khí quyển. Do không đủ nước làm nguội, nhiệt độ tiếp tục lên, và các thanh nhiên liệu bị tan chảy sau khi nhiệt độ vượt ngưỡng tới hạn 2200 độ C, gây hoả hoạn khiến khí hydrogen và các phóng xạ nguy hiểm cho sức khoẻ còn người như iodine và cesium đã đề cập ở trên thoát vào môi trường với số lượng lớn.

Nhiều hay ít phụ thuộc vào số thanh nhiên liệu nằm trong bể chứa, mà thông thường không vượt quá số thanh nhiên liệu đang sử dụng trong lò. Đó là những gì thực sự đang xảy ra tại các lò số 1 - 3 trong ngày 15 và 16/3. Vì không đủ máy phát điện đế bơm nước vào bể chứa, người ta đã thử dụng máy bay trực thăng và vòi phun nước của cảnh sát để đưa nước vào bể qua lỗ thủng trên mái toà nhà sau khi các toà nhà bị nổ hoặc cháy.

Những biện pháp này cần người điều khiển, vì thế không thể tiếp cận được toà nhà sau khi độ phóng xạ quanh đó tăng cao đe doạ sức khỏe của những người làm nhiệm vụ cứu hộ. Đó là vì sao, trong ngày 16/3, máy bay trực thăng của quân đội phải rút lui sau khi độ phóng xạ lên tới trên 50 milisieverts/giờ (mSv/giờ) ngay bên ngoài nhà máy.

Ngày hôm nay, 17/3, khi độ phóng xạ ở độ cao 90 m cách mặt đất tăng tới 87700 μSV/giờ, hai trực thăng của quân đội đã tiếp tục tưới nước. Sau khi vòi phun trên xe cảnh sát phun không trúng mục tiêu, 5 xe đặc chủng của quân đội đã phun 30 tấn nước vào bể chứa các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng.

Công ty điện lực TEPCO vừa thông báo họ đã hoàn tất đường dẫn điện mới để cung cấp điện cho các máy bơm nhưng không nói rõ khi nào đường điện đó sẽ có thể hoạt động. Hãng General Electric, nơi đã sản xuất lò số 1, 2 và 6 của NMĐNT Fukushima 1, đã bắt đầu vận chuyển máy phát điện từ Mỹ sang Nhật. Một khi nguồn điện được khôi phục, người ta hy vọng hệ thống bơm trong bể chứa và lò sẽ hoạt động lại và sẽ hoàn thành việc làm nguội toàn bộ các thanh nhiên liệu.

Liều lượng phóng xạ

Liều lượng phóng xạ được đo bằng đơn vị sievert, viết tắt là Sv, theo tên cuả nhà vật lý y học người Thụy Điển, Rolf Sievert. Đây là đơn vị đo năng lượng phóng xạ, tính bằng joule (J), ngấm vào 1 kg vật chất: 1 Sv = 1 J/kg = 1 m2/giây2.

1 Sv = 1000 mSv (milisieverts) = 1 000 000 μSv (microsieverts).

Như vậy 1 mSv = 1000 μSv.

Dưới đây là một số ví dụ về liều lượng phóng xạ:

- Một lần chụp răng bằng X-quang: 5 μSv

- Một lần chụp kiểm tra ung thư vú: 3000 μSv

- Một lần chụp CT scan ngực: 6000 - 18000 μSv

- Phóng xạ tự nhiên trong cơ thế con nguời: 400 μSv/năm, tức khoảng 0.046 μSv/giờ

- Liều lượng phóng xạ cao nhất mà con người có thể chịu được mà không bị tổn hại sức khoẻ: 5.7 μSv/giờ

- Hút 15 bao thuốc lá mỗi ngày: 13 mSv/năm, hay 1.48 μSv/giờ

- Độ phóng xạ cao nhất bên ngoài lò số 3 tại NMĐNT Fukushima: 400 000 μSv/giờ sau đó nhanh chóng giảm xuống 5000 μSv/giờ

- Vụ nổ NMĐNT tại Chernobyl: 300 000 000 μSv/giờ (300 triệu μSv/giờ), tức gấp 750 lần độ phóng xạ cao nhất thoát ra tại Fukusima 1

- Phóng xạ đo được tại Tokyo chiều 15/3/2011 (tức là sau khi toà nhà lò số 2 tại NMĐNT Fukushima 1 phát nổ): 0.8 μSv/giờ

Theo số liệu đo hàng ngày của Ủy ban khẩn cấp của viện Nghiên cứu Vật lý và Hoá học (RIKEN) tại thành phố Wako, nơi tôi đang sống và làm việc, hồi 3 giờ sáng ngày 15/3, mức phóng xạ là bình thường (0.04 μSv/giờ). Sau khi toà nhà lò phản ứng số 2 của nhà máy Fukushima 1 phát nổ lúc 6:00 giờ sáng, tại Wako city mức phóng xạ đo được tăng gấp 3 lần.

Đến 10 giờ 37 mức đó tăng cao nhất, gấp 40 lần mức bình thường, nhưng tới 14 giờ 30 thì giảm xuống còn 0.13 μSv/giờ, tức gấp 3.25 lần mức bình thường. Tuy nhiên những con số này tại Wako city, kể cả lúc cao nhất (1.6 μSv/giờ) vẫn còn ít hơn vài lần (ít hơn 3.6 lần) so với giới hạn cho phép của mức phóng xạ mà con người có thể chịu mà không nguy hại cho sức khoẻ (50000 μSv/năm tức khoảng 5.7 μSv/giờ). Hai ngày sau, 16 và 17/3 độ phóng xạ tại Wako city ổn định ở mức 0.13 - 0.14 μSv/giờ.

Vì sao Fukishima 1 không phải là Chernobyl thứ 2?

Vấn đề tối quan trọng hiện nay là bơm đủ nước để làm ngập các thanh nhiên liệu đã qua sử dụng dựng trong bể chứa, tránh cho chúng bị phơi ra không khí, làm nguội chúng, để chúng khỏi tan chảy. Nếu không, một lượng lớn các chất phóng xạ sẽ thoát vào khí quyển. Các chất phóng xạ phát ra các tia α (alpha), β (beta), γ (gamma). Hạt α nặng và chậm, nên khả năng đâm xuyên yếu, không qua nổi một tờ giấy. Hạt β nhẹ và nhanh, có khả năng đâm xuyên trung bình, dễ dàng bị chặn lại bằng một tấm nhôm hay nhựa.

Vì thế các hạt α và β không thoát nổi ra ngoài buồng áp suất của lò phản ứng. Các tia γ có khả năng đâm xuyên lớn, nên người ta phải dùng những tấm chì dày, hay tường bê tông để cản chúng. Một loại bức xạ nguy hiểm nữa là bức xạ neutron, được tạo bởi các hạt neutrons tự do thoát ra từ phân hạch tự phát hay phân hạch trong phản ứng dây chuyền của các hạt nhân uranium xảy ra bên trong lõi lò.

Neutron có khả năng đâm xuyên sâu, phá hủy các phân tử và nguyên tử tạo nên vật chất, làm các chất không phóng xạ trở thành chất phóng xạ (kích hoạt neutron), gây phàn ứng tạo ra bức xạ proton. Đối với neutron tấm che chắn bằng kim loại nặng (như chì) trở nên không có hiệu lực. Người ta phải dùng các chất liệu giàu hydrogen để cản các hạt neutrons (tường bê tông dày, các khối paraffin, nước).

Sau khi neutrons đã bị các chất liệu trên làm chậm lại, người ta dùng các đồng vị như lithium 6 để hấp thụ neutrons. Trong thảm hoạ Chernobyl (xảy ra vào ngày 26/4/1986 tại Ukraine thuộc Liên Xô cũ), do thiết kế sai và điều hành kém, hydrogen nổ ngay trong buồng áp suất bên trong lò phản ứng trước khi các thanh nhiên liệu kịp ngừng phản ứng dây chuyền, khiến toàn bộ lò nổ tung, văng tất cả nhiên liệu phóng xạ và các nguyên tố phóng xạ độc hại sinh ra trong phản ứng dây chuyền ra ngoài môi trường trong một vùng bán kính hơn 9 km.

Một vụ nổ như tại Chernobyl hầu như không có khả năng xảy trong sự cố NMĐNT Fukushima 1 bởi, từ lúc 14:48 ngày 13/3, ngay sau khi xảy ra động đất, hệ thống tắt tự động đã dừng ngay các phản ứng dây chuyền trong tất cả các lò. Khả năng các lò này phát nổ như một "quả bom bẩn" (dirty bomb) Chernobyl đã được loại trừ. Các vụ nổ khí hydrogen tại NMĐNT Fukishoma 1 đều xảy ra bên ngoài lò phản ứng, không làm hư hại hầm lò.

Việc khắc phục hậu quả của phóng xạ đã nhiễm vào khí quyển, đất, nước, thực vật là một vấn đề nghiêm trọng khác đối với Nhật Bản và sẽ kéo dài trong nhiều năm tới.

_______________

*) Tới chiều 18/3/2011 số người chết lên tới 6548, vượt số người chết trong trận động đất tại Kobe năm 1995, số người mất tích: 10282, khiến trận động đất ngày 13/3/2011 trở thành thảm họa gây nhiều tử vong nhất tại Nhật Bản kể từ sau Thế chiến II.

(Nguồn: Blog Nguyễn Đình Đăng)

Người giỏi làm Toán: Rất lãng phí

(VietNamNet) - Nhúng tay vào hàng chục lĩnh vực: điện ảnh, bất động sản, ngân hàng, quảng cáo, PR, báo chí, tin học, thiết bị văn phòng...Sở hữu và đồng sở hữu vài chục công ty, trong đó đã và đang gây ấn tượng với những cái tên nổi tiếng như FPT, Zodiac (Hoàng đạo), ACB, TOGI, Vĩnh Trinh Company, Thiên Ngân Galaxy... Từ một sinh viên Toán cách đây 20 năm, Nguyễn Trung Hà đã từ bỏ lối đi được dọn sẵn để hiện tại trở thành một nhà đầu tư "có máu mặt" của Việt Nam.

Trong quá trình đi tìm nhân vật cho loạt bài này, với mục đích tiếp cận những cựu HSG quốc tế thành danh trong lĩnh vực kinh doanh, tôi nhận được không dưới 10 lời giới thiệu của nhiều doanh nhân thành đạt về Nguyễn Trung Hà.

Cuộc phỏng vấn được thực hiện cuối tháng 11/2005. Thẳng thắn và thực tế, đôi chút cực đoan (?), nhiều ý kiến của anh có thể sẽ gây ra tranh cãi hay dư luận trái chiều.  

Toán học không có nhiều ý nghĩa với xã hội

- Trước khi là một nhà đầu tư, anh từng là một học sinh giỏi Toán? 

Năm 1978, đạt giải ba HSG Toán quốc tế ở Rumani, cùng 40 người đạt điểm cao nhất trong kỳ thi đại học, tôi được gửi lên trường quân sự trên Vĩnh Phúc để ôn luyện tiếng, chuẩn bị cho việc sang Nga.

Năm sau, tôi sang MGU (ĐH Tổng hợp Moskva) học khoa Toán Cơ, ngành Toán lý thuyết, lại chọn Lý thuyết số, môn cổ điển và kém ứng dụng nhất trong các nhánh của Toán học. Nhưng chưa hết đại học thì tôi chán. Tôi tự nhận thấy học Toán xong, rồi cũng không để làm gì. 

- Vì sao? 

Tôi cho rằng, những gì dân Toán làm là: Tự đặt vấn đề, Tự giải quyết vấn đề rồi lại Tự hoan hô. Nói chung là một chuỗi công đoạn “tự sướng” và ít có ích cho người khác. Nói cách khác, giá trị của việc học Toán và làm Toán không cao.  

- Toán học vẫn được coi là nền tảng của nhiều môn khoa học khác. Những điều anh nói dường như phủ nhận một quan niệm được rất nhiều người thừa nhận? 

Kiến thức Toán khá cần thiết trong nhiều lĩnh vực, trong cuộc sống. Nhưng, những thứ thực sự cần thiết cũng chỉ ở tầm vừa vừa thôi, nói nôm na là 1+1=2, chứ không phải những cái hoành tráng, trừu tượng, cao siêu. Mà, Toán học bây giờ đi xa lắm rồi, ở tận chân trời nào rồi.  

Đa phần những vấn đề mà các nhà Toán học nghiên cứu, là do họ tự đặt ra, tự thấy rằng nó rất có ích, rồi tự đi tìm lời giải và cũng chỉ có họ, hoặc những người theo đuổi Toán ở tầm của họ mới hiểu được.  

Vì không có ai hiểu được ngoài mấy ông Toán biết với nhau, nên cũng là các ông tự hoan hô nhau. Ông này khen ông khác giỏi, khen những vấn đề xyz nào đó là giải quyết được mấu chốt, là có ý nghĩa, ảnh hưởng rất lớn... và dân chúng, xã hội, thực ra là chẳng hiểu tẹo nào về vấn đề đó... tung hô theo.  

- Anh có nghĩ rằng những điều này sẽ động chạm? 

Tất nhiên, bất cứ chuyện gì nhạy cảm cũng có thể động chạm. Nhưng, tôi nói với tư cách không phải người ngoại đạo. Tôi cũng từng học Toán. Rất, rất nhiều bạn bè tôi cũng là dân Toán... Trong giới Toán nói chuyện với nhau cũng rất hiểu điều đó. Chúng tôi còn dùng nhiều từ "trần trụi" hơn nhiều: chẳng hạn thủ dâm tư tưởng (cười to). Vô nghĩa! Ông này Tiến sỹ, anh kia Tiến sỹ... toàn giải quyết vấn đề vô nghĩa.

- Anh từng học Toán, tức là cũng đã từng thấy rằng nó có ích. Mất bao lâu để anh đi đến kết luận ngược như bây giờ? 

Tất nhiên, ngày xưa, tôi không nghĩ ngay được cái điều mà tôi thấy bây giờ. Thời đầu, cũng như rất nhiều SV Toán khác, tôi rất thích làm Toán. Mỗi lần tự giải quyết được một bài toán, một vấn đề nào đó thì thấy rất sướng. Và, nếu có ai đó xung quanh hoan hô thì càng vui, hay tự mình hoan hô cũng thấy hay, cũng đủ để thoả mãn (cười). 

Nhưng, cuộc đời có những thời điểm, những cột mốc có thể làm người ta thay đổi cách suy nghĩ. Thay đổi một cách sâu sắc, về chất.  

Năm 1982, tôi bị lao phổi và phải vào nằm trong Viện lao Moskva mất 1 năm. Thời gian này, rảnh rỗi nên tôi có nhiều thì giờ suy ngẫm về cuộc đời. Sau khi ra Viện, tôi trở thành người khác hẳn, trong cách nhìn cuộc sống. Tự dưng, tôi nhận thấy một cách rất rõ ràng sự vô nghĩa của những cái mình đang theo đuổi, cụ thể là việc học Toán, hay việc mình muốn đạt cái nọ, cái kia.  

Người giỏi làm Toán là sự lãng phí 

- Nhưng, có một thực tế là dân Toán đa phần là những người giỏi và họ dễ thành công, kể cả khi chuyển sang các ngành khác. Tức là Toán học có ích, ít nhất về mặt đào tạo?  

Có một số khái niệm bị đóng khung trong suy nghĩ. Nói thịt nghĩ ngay là thịt lợn, chứ không phải thịt gà, thịt cừu, thịt bò... Nói giỏi hầu như chúng ta cũng hiểu là giỏi Toán, nếu giỏi Văn, giỏi Lý, Hoá, Nhạc, Hoạ... sẽ cần phải chua thêm mấy cái danh từ phụ.  

Cá nhân tôi nghĩ có sự nhầm lẫn ở đây. Nhiều người nghĩ những người học giỏi Toán khi nhảy sang các ngành khác làm cái gì cũng dễ giỏi, dễ thành công, tôi lại cho rằng, những người giỏi Toán, bản thân họ là những người giỏi, tức là họ có nhiều tố chất về trí tuệ để dễ thành công... Mà người giỏi thì học gì, làm gì cũng dễ giỏi kể cả học Toán.  

Chẳng qua, người có trí tuệ tốt từ bé thường được hướng, hoặc tự chọn vào những môn mang tính khoa học, nhất là Toán. Thành ra, mật độ những người giỏi "dính dáng" đến Toán là tương đối cao, nên dẫn đến sự đánh đồng khái niệm: dân Toán là dân giỏi. Sự lãng phí ở đây là lẽ ra phải cho những người giỏi đó học ngành khác hữu ích hơn là Toán. 

- Nhưng rõ ràng, rất nhiều kiến thức của Toán đã và đang được áp dụng trong rất nhiều ngành nghề khác nhau? 

Chúng ta nhầm lẫn trong việc định nghĩa thế nào là ứng dụng, dẫn đến hiểu Toán có ứng dụng trong nhiều ngành. Không phải vậy. Toán hoàn toàn không có ứng dụng. Tôi nghĩ kiến thức Toán ở bậc ĐH là bắt đầu không cần thiết. Càng nghiên cứu lên cao, Toán càng ít tính ứng dụng hơn. Lúc đó, nó chỉ phục vụ cho những sự phát triển nội tại của bản thân nó thôi. Tôi cho rằng vô ích. Nếu muốn nước ta đi nhanh hơn thì có lẽ nên bỏ qua ngành học này. 

- Anh có mạnh miệng quá không?  

Đó là sự thực. Để nói là vô ích hay không thì xác định xem ta đứng ở điểm nào đó để nhìn. Nhiều người cứ lý luận, hoặc có thể chính họ tin rằng, Toán hữu ích. Nhưng, nhìn ở góc độ phát triển kinh tế xã hội nước ta hiện tại, cống hiến của Toán thực sự không có gì.   

- Vậy, anh nói thế nào, khi vẫn luôn có những hình thức tôn vinh đóng góp của các nhà Toán học? Và, cả những nỗ lực và sự đầu tư để Toán phát triển. Phải chăng xã hội nhầm lẫn hết? 

Toán là một trò chơi. Tôi ví dụ, thi nhảy cao chẳng hạn, cũng là một trò chơi, một trò thể thao. Bản thân cái việc nhảy cao, chẳng có ý nghĩa gì cả, ngoài 1 điều duy nhất là có tác dụng về tinh thần. Nó có thể thoả mãn khát khao chinh phục một cái gì đấy, hay thúc đẩy cho nhiều người yêu thích và hứng thú luyện tập thể dục.  

Toán học cũng vậy. Học tiếp lên, nghiên cứu tiếp lên, có thể ra được những cái khá hơn cái cũ, cũng như nhảy cao, cố gắng 2m10, rồi 2m12 sẽ đạt được mục tiêu là chinh phục kỷ lục nào đó. Ngoài ý nghĩa này thì toàn bộ công đoạn nỗ lực đó là vô nghĩa. 

- Vô nghĩa? Giải thưởng Clay của Ngô Bảo Châu được nhiều người coi là niềm tự hào là một ví dụ phản bác lại nhận định của anh? 

Đúng, nó là sự tự hào. Về khía cạnh này thì rất có ý nghĩa.  

Những nhà Toán học thành công, cũng như những VĐV thể thao thành công sẽ nuôi dưỡng được niềm tự hào cho những người liên quan, trong gia đình, thậm chí trong cộng đồng của họ. Nhưng, điều ấy có ý nghĩa gì khác, cũng như kỷ lục thế giới có ý nghĩa gì, ngoài cái danh kỷ lục?

Đừng vẽ son, tô hồng quá cho dân Toán. Phát triển xã hội thì đừng đưa những đầu óc tinh tuý nhất vào ngành Toán, để họ trăn trở với những việc tự đặt vấn đề rồi tự giải quyết vấn đề. Lãng phí. Những đầu óc ấy có thể làm được việc khác, hữu ích hơn nhiều lần. 

- Anh lấy những tiêu chí nào để đánh giá một cái gì đó là hữu ích? 

Đơn giản thôi, một cái gì đó hữu ích là khi người ta dùng nhiều. Thực ra, chính xác hơn, dùng nhiều mới là có khả năng hữu ích chứ chưa dám chắc là hữu ích thật sự. Chứ nhiều kiến thức Toán cao siêu, trừ một bộ phận rất nhỏ của xã hội hiểu được, còn đa phần chẳng ai hiểu gì, thế thì nói gì đến dùng hay ứng dụng.  

Những nhà Toán học hi sinh vì xã hội để đi lừa đảo đám đông. Họ có đóng góp rất ít ngoài việc việc làm gương để khích lệ thêm nhiều trí tuệ tinh hoa khác đi theo vào con đường đó, mà chính ra, ngay cả điều này không nên nhìn nhận là đóng góp.  

Cố gắng không lấy bằng nếu không bắt buộc 

- Quay lại trường hợp của anh, sau khi ra viện và thay đổi nhận thức về cuộc sống, anh hiện thực hoá suy nghĩ của mình như thế nào? 

Sau đó, thực sự tôi chỉ học tiếp sao cho cốt hoàn thành nốt bậc học vì không còn cảm thấy hứng thú nữa. Tôi dành thời gian để học những thứ khác, tự học và học qua các thầy. Định kiếm thêm cái bằng Tâm lý nhưng thậm chí, tôi thấy ngay cả việc này cũng vô nghĩa nốt.  

Về sau này, tôi vẫn theo học nhiều thứ khác, nhưng cố gắng không lấy bằng làm gì nếu không bắt buộc. 

Năm 1985, tốt nghiệp MGU, tôi xác định ngay tinh thần không học tiếp làm gì, và về nước. May mắn, tôi có việc ngay tại Viện Cơ học, thuộc Viện Khoa học Viện Nam. 

- Thời đó, cơ chế chưa thoáng và xin việc không dễ, chắc anh có thuận lợi về mặt quan hệ?  

Không biết vì lý do gì đấy, tôi được nhận ngay (cười). Có thể nói con đường sự nghiệp của tôi rất thuận lợi.  

- Anh bắt đầu nghiêng sang việc kinh doanh như thế nào?  

Hồi đó, Viện Cơ thuộc dạng khá nhất về mặt năng động ứng dụng, làm kiểu chân trong chân ngoài...   

Các bác lãnh đạo Viện lúc đó như bác Đạo (Nguyễn Văn Đạo), bác Điệp (Nguyễn Văn Điệp) đều yêu quý và tạo điều kiện cho nhân viên làm thêm bên ngoài. Chúng tôi lập nhóm ứng dụng cơ học vào điện lạnh, sấy… Hợp đồng ký dưới danh nghĩa của Viện, và Viện được phần trăm. Sau này, khi thấy việc tách ra riêng, có con dấu riêng sẽ thuận lợi hơn về mặt kinh doanh và cũng có lợi hơn, chúng tôi lập công ty.  

Năm 1989, tôi lập công ty Zodiac (tên tiếng Việt là Hoàng đạo), trực thuộc Hội Tin học, kinh doanh máy móc, thiết bị tin học. Sau khi có Luật Doanh nghiệp (năm 1991), chuyển thành công ty TNHH.  Dần dần, do nhu cầu phát triển mà những mảng kinh doanh sau này như ngân hàng, bất động sản, tin học… là sự tiến lên và mở rộng theo sự phát triển tất yếu.  

- Tức là, anh đến với kinh doanh do sự đưa đẩy của thời cuộc? Thời đó, với các nhà khoa học như các anh, tính riêng lương có đủ sống không?  

Đủ, bằng chứng là tôi vẫn sống đây (cười). Không thể nói do đồng lương không đủ sống mà người ta chuyển sang kinh doanh được. Kinh doanh là việc tự thân.  

Có thể, có những sai lầm lại dẫn đến thành công. Mình tưởng rằng mình giỏi và có thể làm được điều gì đó, nên cứ thế làm, và làm được, đâm ra lại càng nghĩ rằng mình giỏi thật. Sau này, khi có nhiều kinh nghiệm hơn rồi, nhìn lại mình biết trong những cái làm ấy có nhiều sai sót. 

Tôi ra kinh doanh bắt đầu từ việc nghĩ rằng, mình làm kinh doanh giỏi. Thực sự, bây giờ tôi không ưa kinh doanh, mà lại thích làm Toán hơn.  

- Có mâu thuẫn với điều anh khẳng định: Toán là lãng phí và vô nghĩa?  

Không mâu thuẫn. Làm Toán như một trò chơi thì vẫn thấy nó hay, nó đẹp. Làm Toán như một sự thủ dâm tinh thần thì vẫn tự thấy sướng, thấy hứng thú (cười). Mặc dù đúng là những trò chơi, hay sự "tự sướng" chẳng có ý nghĩa gì đối với xã hội. Còn kinh doanh không thấy vui, vì nó càng ngày càng bẩn. 

- Cụ thể hơn là cái gì bẩn: môi trường? 

Tôi quen với môi trường logic hơn. Môi trường kinh doanh bây giờ có nhiều sự phi logic, đôi khi kết quả đạt được không phụ thuộc bản thân ý tưởng kinh doanh mà còn nhiều điều kiện phụ khác. 

Muốn đầu tư vào những lĩnh vực liên quan đến công chúng 

- Cùng một lúc sở hữu nhiều công ty trong nhiều lĩnh vực, anh làm thế nào để vận hành và quản lý tốt? 

Nói chung, ở tất cả mọi công ty, tôi đều không làm gì quá sâu sát. Thực ra thì người ta không thể biết được nhiều thứ, quan trọng là biết tổ chức. Quản lý kinh doanh đòi hỏi các kỹ năng, còn đầu tư đòi hỏi những ý tưởng.  

Tôi ít biết (và vì thế không thích) quản lý kinh doanh nhưng tôi có nhiều ý tưởng và có thể nhận biết người chuyên môn giỏi và sâu hơn mình để làm các việc. Phần việc của tôi là đưa ra định hướng, chiến lược: chẳng hạn quyết định hướng đi, xác định mục đích, thời điểm làm, khả năng sinh lời, lên kế hoạch tài chính, huy động tiền vốn, lựa chọn đội ngũ lãnh đạo chủ chốt... 

- Anh có mặt trong rất nhiều lĩnh vực sôi động trong nền kinh tế thị trường, trong đó anh ưu tiên cho lĩnh vực nào? 

Tôi muốn đầu tư vào những lĩnh vực liên quan đến công chúng: điện ảnh, bất động sản, ngân hàng, quảng cáo, báo chí...Sự thành bại trong kinh doanh ở những lĩnh vực này ít bị ảnh hưởng bởi các cơ quan công quyền. 

- Hiện tại anh coi "mảng" đầu tư lớn nhất của mình là gi? 

Hiện tại, tôi đang cho mình nghỉ hưu. Thời gian lúc này dành nhiều cho việc đọc sách. 

- Anh đọc những sách gì? 

Đọc rất tạp (cười) sách lịch sử, tiểu thuyết, triết học phương Đông... 

- Một chút về cá nhân anh? 

Tôi sinh năm 1962, dân chuyên Toán Chu Văn An, lấy vợ được 21 năm, có 2 con gái. Vợ tôi là Tiến sỹ Toán - Lý, dân chuyên Toán ĐH Tổng hợp. Tôi là người lười biếng, thích suy nghĩ hơn là hành động, thích nói phét hơn là làm. 

- Cảm ơn anh vì cuộc trò chuyện này.